Hà Nội: Kết quả xây dựng hạ tầng CNTT và ứng dụng CNTT giai đoạn 2010 - 2015
Là một trong những nhiệm vụ nhằm góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa nền hành chính Thủ đô, công tác xây dựng hạ tầng CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT luôn được Thành phố hết sức chú trọng, quan tâm đầu tư. Theo kết quả đánh giá của Ban Chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin, năm 2014, Hà Nội đứng thứ 3/63 tỉnh, thành phố về chỉ số mức độ sẵn sàng phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin Việt Nam...
Là một trong những nhiệm vụ nhằm góp phần đẩy nhanh tiến trình hiện đại hóa nền hành chính Thủ đô, công tác xây dựng hạ tầng CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT luôn được Thành phố hết sức chú trọng, quan tâm đầu tư. Theo kết quả đánh giá của Ban Chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin, năm 2014, Hà Nội đứng thứ 3/63 tỉnh, thành phố về chỉ số mức độ sẵn sàng phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin Việt Nam... Để xây dựng nền tảng cho việc phát triển CNTT, UBND Thành phố đã phê duyệt quy hoạch phát triển CNTT đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; ban hành Chương trình mục tiêu ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước thành phố Hà Nội giai đoạn 2012-2015 và xây dựng các kế hoạch ứng dụng CNTT hàng năm để cụ thể hóa Chương trình mục tiêu ứng dụng CNTT của Thành phố.
Đào tạo CNTT tại Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội
Hạ tầng, thiết bị CNTT phục vụ cán bộ, công chức về cơ bản truyền dẫn tốt; hạ tầng thiết bị CNTT trong nội bộ các cơ quan và tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đáp ứng được nhu cầu ứng dụng tại các đơn vị. Mạng diện rộng (WAN) của Thành phố đã kết nối tới 100% sở, ngành, quận, huyện, thị xã và 130 xã, phường. Đến nay, các cuộc họp trực tuyến/tổng số cuộc họp do UBND Thành phố chủ trì đạt 50%.
100% các sở, ban, ngành và UBND các quận, huyện, thị xã cũng đã có máy chủ quản trị mạng và cài đặt các ứng dụng của đơn vị; 100% các sở, ban, ngành và UBND các quận, huyện, thị xã có mạng LAN và Internet kết nối tới tất cả các phòng, ban; 100% UBND các xã, phường, thị trấn có kết nối Internet và 80% có mạng LAN. Tỷ lệ máy tính/cán bộ, công chức được sử dụng trong cơ quan hành chính thuộc Thành phố: Khối sở, ngành, khối quận đạt 100%; khối huyện đạt tỷ lệ 87%; cấp xã đạt 70%.
Việc ứng dụng CNTT trong nội bộ cơ quan nhà nước được các đơn vị thực hiện có hiệu quả. 100% các sở, ban, ngành, UBND các quận, huyện, thị xã, UBND cấp xã đã cài đặt phần mềm quản lý văn bản và hồ sơ công việc trên môi trường mạng. Tỷ lệ công chức của Thành phố được cấp hòm thư điện tử đạt 100%; tỷ lệ viên chức được cấp hòm thư điện tử đạt 94% (không bao gồm viên chức các đơn vị sự nghiệp ngành y tế, giáo dục). Việc sử dụng hòm thư điện tử trong công việc của công chức, viên chức đạt tỷ lệ 100%.Tỷ lệ trao đổi các văn bản, tài liệu chính thức giữa các cơ quan nhà nước của Thành phố dưới dạng điện tử đạt ở mức độ khá cao. Tỷ lệ văn bản chỉ đạo của UBND Thành phố dưới dạng điện tử đạt 100%, tỷ lệ văn bản giao dịch giữa các cơ quan nhà nước của Thành phố dưới dạng điện tử đạt 80%. Trong năm 2014, có 30 cuộc họp trực tuyến giữa UBND Thành phố và UBND các quận, huyện, thị xã và 44 cuộc họp trực tuyến giữa UBND Thành phố với Chính phủ và các Bộ ngành của Trung ương. Có hơn 80 phần mềm chuyên ngành được ứng dụng trong nội bộ các sở, ban, ngành và UBND các quận, huyện, thị xã.
Thành phố tiếp tục chú trọng triển khai ứng dụng CNTT trong phục vụ người dân, tổ chức, doanh nghiệp. Các ứng dụng như phần mềm một cửa, trang thông tin điện tử, dịch vụ công trực tuyến được triển khai đạt kết quả tốt, góp phần tích cực trong công tác cải cách hành chính: Tỷ lệ cài đặt và sử dụng phần mềm “một cửa điện tử” tại sở, ban, ngành; UBND quận, huyện, thị xã đạt gần 100%; UBND xã, phường, thị trấn đạt 75%. Cổng Giao tiếp điện tử Thành phố cung cấp 100% thông tin chỉ đạo điều hành của UBND Thành phố; 100% sở, ban, ngành và UBND quận, huyện, thị xã có trang/cổng thông tin điện tử và kết nối với Cổng Giao tiếp điện tử Thành phố.
Thành phố đã đầu tư xây dựng 20 hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu. Trong đó có một số hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu đã cơ bản hoàn thành như quản lý văn bản và hồ sơ công việc, cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, thư điện tử Thành phố, Công giao tiếp điện tử Thành phố, quản lý hộ tịch, quản lý thanh toán vốn đầu tư; văn hóa-thể thao-du lịch, giáo dục và đào tạo, mạng thông tin Thành ủy-HĐND-UBND, quản lý khu đô thị mới và nhà ở, bảo hiểm xã hội. quy hoạch xây dựng, quốc phòng Thủ đô và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác như công thương, bưu chính viễn thông, quản lý đầu tư ứng dụng CNTT, quản lý CBCC. Hiện nay, đang triển khai 9/10 nhóm dịch vụ công cơ bản (Gồm Đăng ký kinh doanh, cấp giấy phép thanh lập chi nhánh, văn phòng đại diện, cấp giấy phép xây dựng, cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động xây dựng, cấp giấy phép đầu tư; lao động, việc làm; Giải quyết khiếu nại, tố cáo; Đăng ký tạm trú, tạm vắng; cấp đổi giấy phép lái xe) và 68 dịch vụ công đặc thù (tổng cộng có 113 dịch vụ công, trong đó có 110 dịch vụ công mức độ 3 và 03 dịch vụ công mức độ 4 gồm các dịch vụ về hải quan, thuế, đăng ký kinh doanh).
Thành phố cũng đã hướng dẫn các quận, huyện: Tây Hồ, Long Biên, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Ba Đình, Bắc Từ Liêm, Thạch Thất, Chương Mỹ triển khai thực hiện “cơ quan điện tử”; đồng thời tiếp tục chỉ đạo triển khai nhân rộng mô hình đến tất cả các quận, huyện, thị xã.
Bùi Thị Tú Anh
Lượt xem: 670
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.