Đổi mới hình thức tổ chức đoàn giám sát và ban hành kết luận, theo dõi, giám sát việc thực hiện kết luận

Đẩy nhanh tiến độ xây dựng phần mềm theo dõi, đôn đốc triển khai thực hiện các kết luận giám sát, đảm bảo rõ từng nội dung kiến nghị, trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền, cơ quan liên quan, thời hạn thực hiện các cam kết, lời hứa, tiến độ theo yêu cầu… Gắn việc thực hiện các kết luận giám sát, kết luận chất vấn, giải trình, giải quyết kiến nghị cử tri với việc thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính, trách nhiệm thực thi công vụ của các cơ quan nhà nước trên địa bàn.

Trong thời gian qua, hoạt động giám sát của HĐND các cấp thành phố Hà Nội tiếp tục được đổi mới, tăng cường nâng cao hiệu lực, hiệu quả. Các chương trình giám sát của HĐND được triển khai rất thiết thực, đi đến tận cùng vấn đề và được tuyên truyền rộng khắp cũng tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, càng nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử, thực sự thể hiện vai trò cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương.

Thường trực HĐND các cấp thành phố Hà Nội đã xây dựng các đề án, kế hoạch, giải pháp để tiếp tục đổi mới, cải tiến hoạt động giám sát theo hướng thực chất, khoa học, hiệu quả, bám sát các quy định của Luật và tình hình thực tiễn của Thành phố. Trong đó chú trọng đổi mới trong việc xây dựng chương trình, tổ chức đoàn giám sát và ban hành kết luận, theo dõi, giám sát việc thực hiện kết luận.

Thường trực HĐND, các Ban HĐND, các Tổ đại biểu HĐND và đại biểu HĐND xây dựng kế hoạch giám sát ngay từ đầu năm, trong đó xác định rõ nội dung giám sát chuyên đề, nội dung chất vấn, nội dung giải trình; thời gian thực hiện; đối tượng giám sát... Chủ đề giám sát là những vấn đề dân sinh bức xúc hoặc những tồn tại, hạn chế trong các lĩnh vực quản lý nhà nước được đông đảo dư luận nhân dân quan tâm, được lựa chọn từ công tác tổng hợp những ý kiến kiến nghị của cử tri, của báo cáo xây dựng chính quyền của MTTQ Việt Nam Thành phố, qua các kết quả khảo sát của các Ban, Tổ đại biểu, đặc biệt qua các kênh thông tin báo chí, dư luận xã hội và kết luận, chỉ đạo của Thường trực, Thường vụ Thành ủy. HĐND Thành phố và HĐND cấp huyện, cấp xã đều tham khảo nội dung chương trình, kế hoạch giám sát của Quốc hội và HĐND cấp trên để có sự lồng ghép, phối hợp, tránh chồng chéo về nội dung, thời gian và địa điểm được giám sát. Ngoài ra, có sự kết nối, liên thông giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với giám sát của HĐND về chương trình, nội dung, đối tượng, xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát khoa học, từ đó góp phần hiệu quả hơn trong hoạt động giám sát của HĐND. Thường trực HĐND chịu trách nhiệm tổng hợp, điều hòa chung đảm bảo hoạt động giám sát có trọng tâm, trọng điểm, tránh chồng chéo, hình thức, kém hiệu quả.

Hình thức giám sát tiếp tục được thực hiện theo hướng linh hoạt và đa dạng hóa: Tăng cường giám sát chuyên đề; kết hợp hiệu quả giữa giám sát trực tiếp và giám sát qua báo cáo, giám sát thường kỳ và giám sát đột xuất. Đẩy mạnh giám sát trực tiếp tại cơ sở, hoạt động giám sát, khảo sát trực tiếp chú trọng vào các đối tượng tác động trực tiếp, trao đổi kỹ giữa các bên có liên quan để có cái nhìn chân thực, khách quan nhất. Tổ chức buổi giám sát linh hoạt theo nhóm các đơn vị tương đồng về nội dung, chức năng, nhiệm vụ; kết hợp giữa làm việc trực tiếp tại đơn vị giám sát và làm việc tại Trụ sở của HĐND để mở rộng được thành phần, đối tượng giám sát.

Quy trình giám sát phải đảm bảo theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015. Để tăng hiệu quả giám sát, thành phần mời dự các cuộc giám sát của HĐND, Thường trực, các Ban, các Tổ đại biểu HĐND được mở rộng, gồm đại diện cơ quan cấp trên, lãnh đạo các Ban Đảng, các cơ quan chuyên môn, các chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực giám sát... Các đại biểu HĐND tham gia cơ bản đầy đủ các Đoàn giám sát mà mình là thành viên. Trước và trong các cuộc giám sát, các văn bản có liên quan được cung cấp đầy đủ, kịp thời đến từng thành viên. Các nghị quyết về chất vấn, giám sát chuyên đề, thông báo kết luận giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND được gửi đến các đại biểu HĐND để đại biểu theo dõi, giám sát việc tổ chức, thực hiện của UBND và các ngành hữu quan. Các chế độ, chính sách đối với các đại biểu HĐND, thành viên đoàn giám sát được thực hiện theo đúng quy định.

Đặc biệt, trong điều kiện thực hiện Nghị quyết số 97/2019/QH14 của Quốc hội về thí điểm mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội, Thường trực HĐND Thành phố đã chỉ đạo thực hiện nhiều đổi mới trong công tác giám sát nhằm tăng cường, mở rộng hoạt động giám sát xuống cơ sở, nhất là ở các địa bàn không tổ chức HĐND phường như: Đẩy mạnh phối hợp giữa các Ban HĐND, giữa hoạt động giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội với giám sát của Thường trực HĐND Thành phố, phối hợp giữa Tổ đại biểu và Thường trực HĐND quận, thị xã đối với các lĩnh vực có cùng đối tượng giám sát; đẩy mạnh việc tới tận cử tri, thôn, tổ dân phố, trực tiếp tới từng công trình, dự án cụ thể; kết quả nhiều cuộc giám sát, khảo sát được sử dụng làm căn cứ để chất vấn, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân (từ cán bộ, công chức cấp Thành phố đến cán bộ, công chức cấp xã và doanh nghiệp) tại các phiên chất vấn trong  kỳ họp HĐND, phiên giải trình của Thường trực HĐND; là để xác định những giải pháp, lộ trình khắc phục, xử lý tồn tại, hạn chế, vướng mắc.

Việc tổng hợp, theo dõi, tái giám sát việc thực hiện các kết luận giám sát, kết luận chất vấn, giải trình tiếp tục được tăng cường chú trọng và triển khai hiệu quả. Định kỳ đều có rà soát, yêu cầu các cơ quan chịu trách nhiệm báo cáo kết quả giải quyết và phân công các Ban, Tổ đại biểu đánh giá kết quả thực hiện; xem xét tiến hành chất vấn, giải trình và yêu cầu xem xét trách nhiệm nếu cần thiết. Trong đó, đẩy nhanh tiến độ xây dựng phần mềm theo dõi, đôn đốc triển khai thực hiện các kết luận giám sát, đảm bảo rõ từng nội dung kiến nghị, trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền, cơ quan liên quan, thời hạn thực hiện các cam kết, lời hứa, tiến độ theo yêu cầu… Gắn việc thực hiện các kết luận giám sát, kết luận chất vấn, giải trình, giải quyết kiến nghị cử tri với việc thực hiện nghiêm kỷ luật, kỷ cương hành chính, trách nhiệm thực thi công vụ của các cơ quan nhà nước trên địa bàn./.

Lượt xem: 15377

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.