Nước sạch ngoại thành: Chưa hè đã... khát!
Chưa bao giờ nước sạch lại thiếu trầm trọng trên diện rộng như tại khu vực ngoại thành Hà Nội hiện nay. Thực trạng người dân phải ăn uống, sinh hoạt bằng nước ao tù, nước giếng khoan... bị ô nhiễm ngay giữa Thủ đô đang đặt ra một câu hỏi bức xúc: Bao giờ người dân khu vực ngoại thành Hà Nội mới được dùng nước sạch!?
Chưa bao giờ nước sạch lại thiếu trầm trọng trên diện rộng như tại khu vực ngoại thành Hà Nội hiện nay. Thực trạng người dân phải ăn uống, sinh hoạt bằng nước ao tù, nước giếng khoan... bị ô nhiễm ngay giữa Thủ đô đang đặt ra một câu hỏi bức xúc: Bao giờ người dân khu vực ngoại thành Hà Nội mới được dùng nước sạch!? Nghìn hộ dân sinh sống nhờ nước... ao tù! Tuyến đường bê tông dẫn vào thôn Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, vắng lặng dưới cái nắng như thiêu như đốt của trưa hè. Men theo những con đường nhỏ chạy ngoằn ngoèo khắp thôn xóm, chúng tôi phát hiện những ống nhựa to chừng hơn ngón tay cái đan chằng chịt, "dìu" nhau trải khắp các cột điện, ngọn cây, mái nhà, bờ tường... Tất cả những đường ống đó đều bắt nguồn từ khu vực ao Sen thuộc xóm Giữa, thôn Ngọc Than. Đối nghịch với sự yên tĩnh trên các tuyến đường làng, quang cảnh tại ao Sen náo nhiệt khác thường. Trên bậc thềm cầu ao, từng tốp, từng tốp khá đông người đang ai vào việc nấy. Góc này, mấy chị phụ nữ cắm cúi người giặt quần áo, người rửa rau; góc kia một anh thanh niên vừa tắm vừa tranh thủ rửa bình phun thuốc bảo vệ thực vật; xa xa, vài người phụ nữ đang cố khỏa đám rác rưởi lềnh bềnh trên mặt nước, vục vội từng chiếc thùng, quẩy nước về nhà. Thi thoảng, góc ao lại vọng ra tiếng lợn kêu ầm ĩ từ một dãy chuồng trại chăn nuôi… Và gây ồn ã nhất là tiếng động cơ của hàng chục chiếc máy bơm xung quanh ao đang vận hành, nơi khởi nguồn của hàng trăm đường ống dẫn nước chạy khắp ngõ xóm.
Nước ao tù là nguồn nước sinh hoạt của người dân thôn Ngọc Than, xã Ngọc Mỹ (huyện Quốc Oai).
Anh Nguyễn Văn Ba - một người dân xóm Giữa cho biết, đã hơn ba năm nay, ao Sen trở thành nguồn cung cấp nước sinh hoạt duy nhất cho gần một nghìn hộ dân thuộc các xóm Giữa, xóm Ngánh và xóm Ô, thôn Ngọc Than. Trước đây, các hộ gia đình ở đây chủ yếu sử dụng nước giếng khoan, giếng khơi nhưng không hiểu vì sao, ba năm trở lại đây hầu hết các giếng đều cạn kiệt, kể cả khoan giếng mới cũng không hề có nước. Nếu trước kia chỉ cần đào xuống sâu khoảng 5-6m là thấy nước, giờ có đào hay khoan đến dăm bảy chục mét vẫn chỉ thấy đất đá. Bà con đành rủ nhau, bốn năm nhà cùng mua một máy bơm để bơm nước ao Sen về nhà. Ăn uống, tắm giặt… tất tật chỉ biết trông chờ vào nước mưa và nước ao Sen. Chính vì vậy, xung quanh ao Sen suốt ngày đêm ầm ì tiếng máy bơm, lần lượt dẫn nước vào từng nhà. Có gia đình mua đường ống dài đến 500m mới dẫn được nước ao Sen về nhà mình. Xa nguồn, nước chảy yếu, phải 3-4 giờ đồng hồ mới chảy được một mét khối, có nhà phải trả đến 400-500.000 đồng tiền điện mỗi tháng.
Nước ao Sen quý giá với người dân thôn Ngọc Than là thế nhưng quan sát tận mắt mới thấy ao bị ô nhiễm trầm trọng. Nước trong ao không được lưu thông, nước thải sinh hoạt từ một dãy nhà trọ xả thẳng xuống, bên cạnh là chuồng lợn của một gia đình đang đấu thầu ao để thả cá mà theo người dân khu vực thì hiện trong chuồng nuôi lợn nái và đàn lợn cả chục con. Nước thải của khu chuồng trại chăn nuôi này được xả thẳng xuống ao để… làm thức ăn cho cá. Các góc ao, đủ thứ rác thải nổi tràn lan. Chưa kể mọi sinh hoạt của người dân như tắm giặt, rửa ráy đều đến ao Sen. Để ngăn rác, một số người có sáng kiến xây bể ngay tại ao rồi mới đưa ống xuống hút nước. Việc trang bị máy bơm, mua đường ống dẫn nước, xây bể... mỗi gia đình cũng tốn cả triệu đồng. Nhà nào không có điều kiện thì hằng ngày kéo xe chở thùng hoặc kẽo kẹt gánh nước về. Qua mấy lần lắng lọc, thứ nước thu được cuối cùng vẫn có màu vàng xanh, lờ nhờ và bốc mùi tanh. Chỉ nhìn bằng mắt thường cũng đã thấy nước không sạch, nhưng không dùng thì biết lấy nước ở đâu!?
Khi được hỏi tại sao chính quyền thôn không nhắc nhở, ngăn chặn những việc làm của người dân gây ô nhiễm nguồn nước ao, ông Nguyễn Bá Hưng - Trưởng thôn Ngọc Than cho biết, ao Sen rộng 1,7 mẫu, tương đương 6.120m2, nằm trong quần thể di tích đình Ngọc Than, hiện do xã quản lý, thôn không có thẩm quyền. Vả lại, hiện một gia đình đang đấu thầu ao thả cá, người ta có quyền quản lý, sử dụng ao. Khổ nhất là cuối năm thu hoạch cá, ao cạn khô, hàng nghìn người khốn khổ vì thiếu nước. Thôn cũng chỉ biết vận động người dân thu hoạch cá nhanh trong một tuần để lại trữ nước vào ao.
Trao đổi với phóng viên Hànộimới, ông Nguyễn Quý Thuận - Phó Chủ tịch UBND xã Ngọc Mỹ cho biết, bức xúc của cả nghìn người dân thôn Ngọc Than chính quyền xã đã nắm rõ vì nó diễn ra nhiều năm nay. Trong các cuộc họp, lãnh đạo xã nhiều lần báo cáo, kiến nghị huyện có giải pháp cấp nước sạch cho dân. Cách đây hai năm, một đoàn công tác của thành phố đã về đây khảo sát nhưng cho đến nay chưa có dự án cấp nước nào được triển khai. Trong khi đó, đường ống nước sạch từ sông Đà cấp cho nội thành chạy qua địa bàn xã dài đến mấy kilômét, nhiều nhà dân ở cách họng nước sạch sông Đà chỉ vài trăm mét mà vẫn ngậm ngùi dùng nước ao tù...
Nhiều vùng quê khát nước
Hè đến, thiếu nước sạch là nỗi niềm chung của nhiều vùng quê ngoại thành, kéo theo nỗi lo về ô nhiễm môi trường, dịch bệnh. Tại xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, trong tổng số 2.163 hộ dân thì có đến 2/3 số hộ phải mua nước theo mùa hoặc mua quanh năm. Vì vậy, nơi đây hình thành cả một đội quân chuyên chở nước sạch ở nơi khác về bán. Đầu mùa hè năm nay, đi trên các trục đường làng ngõ xóm của Chàng Sơn, đâu đâu cũng thấy cảnh người dân chở nước đi bán hoặc mua nước về nhà. Đây là xã có nghề mộc truyền thống với hơn 80% số hộ làm nghề, thiếu nước sạch không chỉ bị ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày mà còn kìm hãm sự phát triển sản xuất, khiến môi trường sống của làng nghề bị ô nhiễm nghiêm trọng. Trước đây, mỗi năm xã chỉ bị thiếu nước mấy tháng mùa khô, nhưng đến nay thì các nguồn nước giếng khoan, giếng khơi đều cạn kiệt, thời gian thiếu nước trong năm kéo dài đến 7-8 tháng. Nước vo gạo xong phải dùng để rửa rau, tiết kiệm từng giọt mà hằng tháng nhà nào cũng phải dành ra một khoản tiền đáng kể để lo chuyện nước. Mỗi mét khối nước "không biết có đạt tiêu chuẩn" hay không mà người dân khu vực này phải mua có giá từ 80.000 đến 100.000 đồng. "Chúng tôi không lo thiếu tiền, thiếu gạo. Tiền thiếu có thể vay tạm, gạo thiếu có thể đi xin. Nhưng thiếu nước thì chịu chết, không ai giúp ai được..." - Một người dân than thở.
Tương tự, thiếu nước đến nửa số ngày trong năm là tình trạng của 40% số hộ dân xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ. Xã có tổng số 2.370 hộ với 11.000 nhân khẩu, tính ra mỗi năm có đến hơn 4.000 người "khát" nước sạch. Trong đó tình trạng khan hiếm nước nghiêm trọng nhất là thôn Yên Trường, thôn có đến 90% số dân sống trong cảnh thiếu nước triền miên. Tình trạng thiếu nước đã diễn ra từ năm 2002 và ngày càng lan rộng. Hay ở các xã vùng cao như Phú Sơn, Thái Hòa, huyện Ba Vì nước sạch cũng trở thành gánh nặng. Để có nước, nhiều hộ dân đã phải đầu tư cả chục triệu đồng xây giếng, bể chứa rồi thuê máy bơm nước từ sông Đà về dùng dần, cuộc sống người dân đã khó lại càng thêm khó…
Tình trạng thiếu nước sạch tại các vùng nông thôn, khu vực ngoại thành Hà Nội, đặc biệt các vùng thuộc tỉnh Hà Tây cũ, đã diễn ra từ nhiều năm nay, không còn là chuyện mới. Nhận thức rõ điều này, ngay sau khi hợp nhất, lãnh đạo UBND TP đã rất quan tâm đến vấn đề xây dựng các trạm cấp nước sạch tại khu vực nông thôn. Tuy nhiên, dự án lập ra khá nhiều, song khâu thực hiện lại chẳng được bao nhiêu, bởi nước sạch nông thôn không phải là một môi trường đầu tư hấp dẫn! Đã vậy có không ít các trạm khai thác, xử lý nước sạch sinh hoạt được đầu tư tiền tỷ lại "đắp chiếu" để xuống cấp, hư hỏng không phát huy tác dụng. Theo ông Trần Quốc Hùng - Phó Tổng Giám đốc Công ty Nước sạch Hà Nội, hiện công ty đang trong quá trình xây dựng dự án để vay vốn nhằm xây dựng đường ống, mạng lưới cấp nước để sử dụng nguồn nước mặt sông Đà, cung cấp nước sạch cho 4 huyện dọc Đại lộ Thăng Long. Theo tính toán, tổng chi phí đầu tư cho dự án dự kiến lên tới 5.000 tỷ đồng. Sau khi hoàn thành, dự án sẽ cung cấp nước sạch cho khoảng 100.000 hộ dân".
Trong lúc các dự án, kế hoạch... vẫn đang nằm trên giấy, thì hằng ngày, hằng giờ, người dân sống tại các khu vực nông thôn, ngoại thành Hà Nội vẫn phải sống trong cảnh khát nước ngay khi chưa đến mùa hè!
Và trong khi hơn 60% dân cư tại các khu vực ngoại thành Hà Nội đang sống trong cảnh "khát" nước sạch đạt chuẩn của Bộ Y tế thì tại nhiều nơi lại xảy ra tình trạng đầu tư tiền tỷ xây dựng các trạm cấp nước sạch rồi sau đó... bỏ hoang!
Người ăn không hết, kẻ lần chẳng ra
Trưa đầu hè, con đường đê xanh mướt dẫn vào xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm vắng hoe, không một bóng người qua lại. Sau vài lần hỏi thăm, chúng tôi cũng tìm được trạm cấp nước sạch nằm khuất phía sau trại nuôi cây giống. Khó ai có thể hình dung nổi, 12 năm về trước, nơi đây từng là một trạm cấp nước sạch có dung tích lớn vào loại nhất, nhì của huyện Gia Lâm, với số vốn đầu tư lên tới 4,5 tỷ đồng. Nằm trên khoảng đất rộng, khu vực sân xung quanh bể lọc chứa nước nay đã được vây kín bởi đất, rác và hàng trăm cây cảnh, chậu cảnh đủ loại... Sau nhiều năm bỏ hoang, toàn bộ đường ống và hệ thống rào sắt bảo vệ trong khu bể lọc bị gỉ sét, các hạng mục như hệ thống bơm cấp hai, hệ thống khử trùng, bể lắng... đều trong tình trạng mục nát, phủ kín rêu xanh. Theo một người dân sống ở thôn Phù Đổng 1, trạm cấp nước xã Phù Đổng được xây dựng năm 2001 với công suất thiết kế ban đầu lên tới 120 m3/giờ. Sau khi việc xây dựng hoàn tất, trạm được bàn giao cho HTX Dịch vụ nông nghiệp Phù Đổng khai thác. Thời gian đầu, hệ thống bơm hoạt động khá tốt, chất lượng nguồn nước cung cấp bảo đảm. Nhưng khi hệ thống đường ống trục chính được lắp đặt xong cũng là lúc trạm đứng trước nguy cơ ngưng hoạt động. Lý do chủ yếu là người dân không có nhu cầu dùng nước sạch. Nói chính xác hơn, việc bỏ ra hàng triệu đồng "đầu tư ban đầu" để lắp đặt đường ống và số tiền sử dụng hằng tháng là quá xa xỉ với thu nhập của đa số người dân trong xã. Dân không mấy mặn mà nên chỉ sau 3 năm, cả xã chỉ có khoảng 100 hộ trên tổng số 3.000 hộ dân đăng ký dùng nước sạch. Thu không đủ bù chi, trạm cấp nước đành tạm ngưng hoạt động và nằm "đắp chiếu".
Trạm cấp nước sạch xã Phù Đổng đầu tư tiền tỷ nhưng bỏ hoang.
Tuy không đến mức bi đát như trạm cấp nước sạch Phù Đổng, song tình trạng đầu tư dàn trải, qua loa trong khâu khảo sát nhu cầu sử dụng nước sạch thực tế của người dân cũng diễn ra ở nhiều địa phương khác. Đơn cử, cách đây vài năm, UBND thành phố giao BQL Duy tu giao thông đô thị (đơn vị trực thuộc Sở Xây dựng Hà Nội) đầu tư xây dựng 3 trạm cấp nước sạch tại các xã Nam Sơn - Hồng Kỳ - Bắc Sơn trên địa bàn huyện Sóc Sơn. Theo tính toán, tổng kinh phí xây dựng 3 trạm cung cấp nước này đã lên tới 33 tỷ đồng. Tuy nhiên, trái với khâu khảo sát của đơn vị xây dựng, sau khi đưa các trạm cấp nước vào vận hành, người ta mới ngã ngửa nhận ra nhiều hộ dân không có nhu cầu sử dụng nước sạch. Tại trạm cấp nước Nam Sơn, trong tổng số 96 hộ được lắp đặt đường ống cấp nước sạch, đến nay chỉ có 40 hộ sử dụng thường xuyên, số hộ còn lại vẫn trung thành với nước giếng khoan. Trước tình trạng khai thác không hiệu quả sau đầu tư, một lần nữa, 3 trạm cung cấp lại được chuyển giao Công ty Nước sạch Hà Nội vận hành và khai thác.
Một cán bộ kỳ cựu trong ngành kinh doanh nước sạch than thở: "Chưa bao giờ tình trạng đầu tư các trạm cung cấp nước sạch lại dàn trải và lãng phí như thời gian qua. Phần lớn các địa phương, đơn vị khi được cấp kinh phí là "nhắm mắt làm liều", vội vàng xây dựng trạm cung cấp nước trong khi "bỏ qua" khâu khảo sát nhu cầu sử dụng và khả năng chi trả của người dân. Hậu quả là nơi cần nước sạch thì không có, nơi có nước sạch lại chẳng cần...".
Cần chọn giải pháp tối ưu
Những năm qua, Hà Nội đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để xây dựng 115 công trình cung cấp nước sạch phục vụ nhân dân các khu vực ngoại thành. Tuy nhiên đến nay, ngoài 90 trạm được đưa vào sử dụng vẫn còn nhiều công trình nằm "đắp chiếu" do xây dựng dở dang hoặc quản lý, vận hành kém hiệu quả, chủ yếu tập trung ở các huyện Mỹ Đức, Chương Mỹ, Thanh Oai… Do lâu ngày không đưa vào sử dụng, vận hành, bảo dưỡng nên hiện hầu hết máy móc, trang thiết bị của các công trình trên đều hư hỏng nặng, nhiều hạng mục xuống cấp trầm trọng không còn khả năng sử dụng. Nguyên nhân của tình trạng này ngoài việc chưa khảo sát nhu cầu của người dân địa phương còn do khi triển khai các dự án, ngoài 60% số vốn đầu tư của Nhà nước, các địa phương hưởng lợi phải huy động 40% số vốn còn lại. Nhưng khi triển khai hầu hết các địa phương đều không thực hiện đúng cam kết về số vốn đối ứng, do vậy các dự án sau khi hoàn thành giai đoạn I (phần vốn nhà nước) là công trình bị dừng lại. Ngoài ra, một số đơn vị thiếu trách nhiệm trong việc bảo vệ công trình sau khi nhận bàn giao cũng là nguyên nhân khiến các trạm cấp nước bị bỏ hoang. Hoặc khi đưa vào sử dụng, việc vận hành, quản lý không đúng chuyên môn, kỹ thuật dẫn đến hỏng hóc, tỉ lệ thất thoát nước quá lớn khiến "thu không đủ chi", dẫn đến việc một số trạm cấp nước phải dừng hoạt động.
Trước thực trạng trên, vào cuối năm 2012, xét đề nghị của Sở NN&PTNT, UBND TP đã có 6 quyết định phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình cấp nước sạch liên xã cho các huyện là Mỹ Đức, Thanh Oai, Thường Tín, Phú Xuyên, Ứng Hòa và Mê Linh. Các dự án này do Sở NN&PTNT làm chủ đầu tư, khai thác nguồn nước ngầm, nước mặt sông Đáy, sông Hồng với mục tiêu là cung cấp nước sinh hoạt cho cộng đồng dân cư, cơ quan hành chính, công trình công cộng, làng nghề… Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế xây dựng, quản lý và vận hành kém hiệu quả của những trạm cấp nước nông thôn trước đây, các cơ quan hữu quan vẫn đang tiếp tục thảo luận để tìm ra một giải pháp tối ưu nhất.
Cùng với 6 công trình cấp nước trên cũng có 56 dự án khác nằm trong danh mục ưu tiên đầu tư xây dựng cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn TP Hà Nội đến năm 2030, với kinh phí dự kiến khoảng 13.000 tỷ đồng. Trong đó, Ba Vì là huyện được đầu tư xây dựng nhiều trạm cấp nước nhất với 11 dự án, chủ yếu khai thác nước mặt suối và nước mặt sông Hồng với công suất dự án lớn nhất là 5.000 m3/ngày đêm. Các dự án còn lại chủ yếu tập trung trên địa bàn xã thuộc các huyện phía tây mới sáp nhập, đặc biệt là những nơi người dân đang "khát nước" nghiêm trọng như Mỹ Đức, Thạch Thất… mà bài báo trước chúng tôi đã đề cập. Ngoài ra, sẽ có thêm 92 xã được nối mạng vào hệ thống cấp nước này, bên cạnh việc đấu nối, sử dụng các công trình cấp nước đã được xây dựng từ trước. Với quyết định này của thành phố, đến năm 2020 toàn bộ người dân sống ở các vùng nông thôn của Hà Nội được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Nhưng trước mắt, trong mùa hè 2013 này, để đáp ứng nhu cầu sử dụng của người dân, Công ty Nước sạch Hà Nội cũng đã có kế hoạch mở rộng mạng lưới cấp nước sạch thêm nhiều xã thuộc các khu vực Thanh Trì, Từ Liêm, Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn...
Thiết nghĩ, để đáp ứng kịp thời nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân ngoại thành, các cơ quan chức năng cần sớm khảo sát, đánh giá thực trạng của các trạm cấp nước đang "đắp chiếu", trên cơ sở đó có biện pháp khắc phục tồn tại. Bên cạnh đó cần có chính sách khuyến khích, ưu đãi các doanh nghiệp tham gia đầu tư, quản lý, vận hành, khai thác các trạm cấp nước nông thôn. Đây là tiền đề tốt cho việc mở rộng mạng lưới cấp nước nông thôn, đấu nối với những công trình đang chuẩn bị được đầu tư theo quy hoạch đã được thành phố phê duyệt.
Bảo Nga - Ngọc Thủy/hanoimoi.com.vn
Lượt xem: 552
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.