Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác tiếp công dân và đôn đốc giải quyết đơn thư của đại biểu HĐND

Tiếp công dân và đôn đốc giải quyết đơn thư là một trong những nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của đại biểu dân cử nói chung, đại biểu HĐND các cấp TP Hà Nội nói riêng. Thông qua hoạt động tiếp công dân và đôn đốc giải quyết đơn thư, đại biểu HĐND thực hiện chức năng đại diện của mình, đồng thời thực hiện quyền giám sát đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực thi pháp luật.

Tiếp công dân và đôn đốc giải quyết đơn thư là một trong những nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của đại biểu dân cử nói chung, đại biểu HĐND các cấp thành phố Hà Nội nói riêng. Thông qua hoạt động tiếp công dân và đôn đốc giải quyết đơn thư, đại biểu HĐND thực hiện chức năng đại diện của mình, đồng thời thực hiện quyền giám sát đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực thi pháp luật.

  1. Quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Thường trực HĐND Thành phố đối với công tác tiếp dân và đôn đốc giải quyết đơn thư của đại biểu HĐND.

- Khẳng định công tác tiếp dân và đôn đốc giải quyết đơn thư của đại biểu HĐND là một trong những hoạt động quan trọng của HĐND và đại biểu HĐND các cấp. Thông qua hoạt động này đại biểu HĐND có điều kiện gần dân, gắn bó trực tiếp với nhân dân, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, thực hiện trách nhiệm người đại diện của nhân dân.

- Đảm bảo phát huy cao nhất trách nhiệm tiếp công dân của đại biểu và tạo thuận lợi cho cử tri giám sát hoạt động của đại biểu trong lĩnh vực này.

- Theo dõi, tổng hợp thường xuyên, kịp thời, chính xác tình hình tiếp công dân của đại biểu HĐND và kết quả giải quyết đơn thư của các cơ quan có thẩm quyền do đại biểu chuyển để làm căn cứ đánh giá chất lượng hiệu quả hoạt động tiếp công dân của đại biểu HĐND.

- Tiếp tục nghiên cứu đổi mới nội dung và hình thức tiếp công dân ở địa phương để các cuộc tiếp công dân của đại biểu HĐND thực sự hiệu quả, thiết thực.

  2. Những kết quả đạt được và một số hạn chế trong công tác tiếp dân và đôn đốc giải quyết đơn thư của đại biểu HĐND

 - Những kết quả đạt được:

Trong những năm gần đây, được sự quan tâm chỉ đạo của Thành ủy, HĐND và UBND Thành phố, công tác tiếp công dân và đôn đốc giải quyết đơn thư của đại biểu HĐND Thành phố ở cả 3 cấp, đặc biệt là cấp thành phố đã có nhiều tiến bộ rõ. Cụ thể là:

+ Việc tổ chức cho các đại  biểu HĐND tiếp công dân được quan tâm ở cả 3 cấp HĐND, thực hiện khá nề nếp ở HĐND cấp Thành phố và nhiều quận, huyện;

+ Các cấp chính quyền, ngành, đoàn thể quan tâm hơn đến việc phối hợp tổ chức công tác tiếp dân và giải quyết KNTC của công dân; HĐND Thành phố và một số quận, huyện đã ban hành Nghị quyết về công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư; nhờ đó tình trạng khiếu kiện đông người, khiếu kiện tại trụ sở các cơ quan chính quyền đã có chuyển biến, giảm đáng kể; nhiều vụ việc khiếu nại tố cáo tồn đọng kéo dài đã được tập trung xem xét giải quyết dứt điểm.

+ Đại biểu HĐND các cấp đã tích cực, chủ động tham gia công tác tiếp công dân, trực tiếp tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới người dân, gần gũi với cử tri, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của dân và chia sẻ những bức xúc của người dân, đôn đốc giải quyết đơn thư theo luật định.

+ Nhiều vụ việc, đơn thư phản ánh hoặc gửi đơn đến không đúng đối tượng có thẩm quyền giải quyết hoặc không đúng trình tự và thủ tục theo quy định pháp luật đã được các đại biểu hướng dẫn, giúp đỡ để công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và gửi đơn đến đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết, nhằm từng bước đưa việc thực hiện Luật KNTC vào nề nếp, đúng kỷ cương.

+ Công tác theo dõi, tổng hợp việc tiếp nhận, xử lý đơn thư và giải quyết đơn thư có nhiều tiến bộ ở cả 3 cấp.

+ Chất lượng xử lý các kiến nghị của cử tri, đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân được nâng lên một bước, góp phần quan trọng thực hiện nhiệm vụ chính trị ở các địa phương.

  - Một số hạn chế:

+ Việc tổ chức công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân của đại biểu HĐND ở các cấp chính quyền và các địa phương còn chưa đồng đều.

+ Hiệu quả thực sự của công tác tiếp dân chưa cao, một số đại biểu chỉ dừng lại ở việc gặp gỡ, trao đổi và chuyển đơn đến các cơ quan có thẩm quyền, chưa chú trọng đến việc hướng dẫn công dân thực hiện quyền khiếu nại tố cáo; công tác theo dõi, đôn đốc, giám sát việc giải quyết đơn thư của các đại biểu HĐND nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu.

+ Một số đại biểu chưa thực sự quan tâm đầy đủ đến công tác tiếp công dân, còn vắng mặt trong các buổi tiếp dân theo lịch.

+ Trình độ am hiểu kiến thức pháp luật của đại biểu chưa đồng đều, không ít đại biểu còn tỏ ra lúng túng, thiếu kinh nghiệm trong việc tiếp nhận đơn thư, tổng hợp và xử lý đơn thư của công dân.

+ Việc phối hợp, kết nối thông tin và trao đổi thông tin về công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư giữa các cấp chính quyền, giữa các ngành, các tổ chức (bộ phận tiếp dân của Thành ủy, của UBND, của Đoàn đại biểu Quốc hội, của HĐND và của MTTQ) còn yếu, dẫn đến có tình trạng trùng lắp, chồng chéo thậm chí mâu thuẫn nhau trong công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư của công dân.

+ Công tác tham mưu, phục vụ của Văn phòng Đoàn ĐBQH & HĐND Thành phố, Văn phòng HĐND & UBND các quận, huyện, thị xã và các cơ quan chuyên môn khác chưa được quy định rõ, nên ảnh hưởng đến việc tham mưu đối với đại biểu trong hoạt động tiếp dân, hạn chế hiệu quả tiếp dân, giải quyết đơn thư.

3. Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác tiếp dân và đôn đốc giải quyết đơn thư của đại biểu HĐND.

3.1. Nâng cao nhận thức của đại biểu HĐND đối với công tác tiếp công dân và đôn đốc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân.

- Tiếp công dân là nhiệm vụ và trách nhiệm của đại biểu HĐND.

- Đại biểu HĐND chỉ tiếp nhận đơn thư, nghiên cứu, hướng dẫn công dân hoặc chuyển đơn tới các cơ quan có thẩm quyền giải quyết chứ đại biểu HĐND không trực tiếp giải quyết đơn thư.

- Đại biểu HĐND có trách nhiệm theo dõi, giám sát, đôn đốc cơ quan chức năng giải quyết và trả lời công dân.

3.2. Nâng cao trách nhiệm của đại biểu HĐND

- Tham gia đầy đủ các buổi tiếp công dân theo lịch phân công.

- Phải luôn tạo được không khí dân chủ, cởi mở, thái độ tôn trọng, lắng nghe và tiếp thu ý kiến trình bày của công dân kể cả những ý kiến trái ngược nhau. Những vấn đề chưa rõ cần giải thích, hướng dẫn để dân hiểu và thực hiện.

- Khi nhận được đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân cần khẩn trương xem xét, phân loại, xử lý, hướng dẫn công dân hoặc chuyển đơn, yêu cầu các cơ quan chức năng giải quyết, theo dõi chặt chẽ việc giải quyết và yêu cầu giải quyết đúng thời hạn theo luật định.

- Trường hợp các cơ quan chậm giải quyết, cần có những hình thức đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo như: công văn đôn đốc, chất vấn tại kỳ họp hoặc tổ chức giám sát trực tiếp, giám sát qua thư yêu cầu…

- Thông báo kịp thời kết quả giải quyết tới công dân có đơn thư.

- Nâng cao trình độ hiểu biết về chính sách, pháp luật về khiếu nại, tố cáo để hướng dẫn công dân thực hiện đúng trình tự, thủ tục khiếu nại, tố cáo.

3.3. Phát huy vai trò của các cơ quan tham mưu trong công tác tiếp dân

- Cần bố trí cán bộ có trình độ, am hiểu các lĩnh vực làm công tác xử lý, phân loại đơn thư; nâng cao chất lượng giải quyết đơn thư KNTC.

- Chỉ đạo thực hiện tốt công tác tham mưu, mở sổ theo dõi, quản lý, phân loại đơn thư, theo dõi việc giải quyết thu thập tổng hợp những thông tin có liên quan cần thiết giúp đại biểu HĐND tiếp dân, giám sát việc giải quyết đơn thư của công dân.

- Phối hợp tốt giữa các cơ quan văn phòng với các đại biểu HĐND, các tổ đại biểu HĐND trong công tác tổ chức, theo dõi, tập hợp, tổng hợp tình hình về công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư.

3.4. Tăng cường sự phối hợp với các cấp, các ngành trong công tác tiếp dân

- Tăng cường công tác phối hợp trao đổi thông tin, nắm tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân giữa các cấp chính quyền (Thành phố, quận, huyện, xã) và nhất là giữa các kênh (tổ chức tiếp dân, giải quyết đơn thư của Thành ủy - HĐND - UBND - UB MTTQ - Đoàn đại biểu Quốc hội), tránh sự chồng chéo, trùng lắp, mâu thuẫn nhau.

- Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan dân cử với các cơ quan hành pháp ở địa phương. Có thể mời các đồng chí lãnh đạo UBND hoặc lãnh đạo các sở, ngành, Thanh tra Thành phố, chính quyền địa phương cùng tham gia tiếp công dân.

- Tăng cường công tác phối hợp giữa đại biểu HĐND với các cấp, các ngành, đặc biệt là công tác phối hợp với chính quyền trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.

3.5. Phát huy vai trò của Thường trực HĐND.

Để các đại biểu HĐND thực hiện tốt nhiệm vụ tiếp công dân và giải quyết đơn thư. Thường trực HĐND có vai trò quan trọng:

- Theo dõi, chỉ đạo việc tổ chức công tác tiếp công dân của các đại biểu HĐND.

- Xây dựng các quy định, quy chế tiếp công dân của đại biểu HĐND

- Quyết định các chính sách, chế độ đối với những cán bộ chuyên trách phục vụ công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư.

- Tập huấn, hướng dẫn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ tổ chức trao đổi kinh nghiệm trong công tác tiếp dân và giải quyết đơn thư của đại biểu HĐND và các tổ chức, cá nhân tham mưu, phục vụ công tác này.

- Theo dõi hoạt động tiếp công dân của đại biểu, định kỳ có đánh giá sơ kết, tổng kết.

          THƯỜNG TRỰC HĐND THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Lượt xem: 571

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.