Tìm hiểu tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác trọng dụng cán bộ

Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo, sử dụng cán bộ, giao cho họ những trọng trách và giúp đỡ họ hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giao phó. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Người dạy: “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, “Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”...

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, ông cha ta đã ý thức rõ việc dùng người là quốc sách. Dùng đúng người giữ những trọng trách có tác dụng trực tiếp đến sự tồn vong của quốc gia, sự trường tồn và phát triển của đất nước. Người xưa có câu: “Dụng nhân như dụng mộc”. Triều chính nào cũng vậy, việc quản lý, sử dụng, phân công con người trong bộ máy công quyền đều rất được coi trọng. Nếu làm tốt việc này thì có thể đảm bảo và tiên lượng ngay là sẽ thành công trong sự nghiệp giải phóng, xây dựng và bảo vệ non sông đất nước…

Khi lên ngôi, Hoàng đế Quang Trung cho ban hành “ Chiếu cầu hiền”. Một trong những nội dung quan trong nhất mà Hoàng đế thỉnh dụ là: “…Dân chúng trăm họ, ai có tài học thuật, mưu hay giúp ích cho đời, đều có phép được dâng thư bày tỏ công việc. Lời có thể dùng được thì đặc cách bổ dụng, lời không dùng được thì để đấy, chứ không bắt tội vu khoát. Những người có tài nghệ gì, có thể dùng được cho đời thì các quan văn, quan võ được tiến cử, lại cho dẫn đến yết kiến tùy tài mà bổ dụng”.  Phàm việc gì cũng vậy, nếu nhìn nhận đánh giá không đúng về phẩm chất, năng lực, bản lĩnh của con người; theo đó là sự phân công, trong dụng không phù hợp sẽ mang lại hậu quả xấu. Lịch sử các triều đại Việt Nam hệ quả tốt, xấu xuất phát từ việc trọng dụng con người đã minh chứng. Đất nước cường thịnh, có chủ quyền, muôn dân no ấm hoặc đất nước lầm than, thậm chí là bị ngoại bang cai trị cũng xuất phát từ nguyên nhân quan trọng nhất là: Biết hay không biết dùng người. Lẽ dĩ nhiên việc “ Dụng nhân” là một việc cực kỳ khó khăn và phức tạp, vì vậy đòi hỏi người có quyền hành quyết định phải có tài năng, đức độ và bản lĩnh thế nào; xuất phát từ mục đích gì?...

Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đặc biệt đến việc đào tạo, sử dụng cán bộ, giao cho họ những trọng trách và giúp đỡ họ hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giao phó. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Người dạy: “Huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, “Đảng phải nuôi dạy cán bộ như người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu”. Để có được những cán bộ ưu tú một lòng vì Đảng, vì dân, theo Người trong sử dụng cán bộ phải hiểu biết cán bộ, khéo dùng cán bộ, cất nhắc cán bộ, thương yêu giúp đỡ cán bộ và còn phải phê bình, khen thưởng cán bộ. Tư tưởng, quan điểm của Người trong công tác cán bộ đã được thể hiện rất sâu sắc trong nhiều tác phẩm lý luận, bài viết, bài phát biểu như: “Đường cách mệnh”, “Đạo đức cách mạng”, “sửa đổi lề lối làm việc”, “nâng cao đạo đức cách mạng, quyết sạch chủ nghĩa cá nhân”, “Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”…bao hàm những vấn đề sau:

Một là, làm cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, một trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất là phải biết dùng người. Nhưng muốn hiểu biết cán bộ thì người lãnh đạo phải hiểu mình trước, vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “đã không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậy muốn biết đúng sự phải trái ở người ta, thì trước phải biết đúng sự phải trái của mình. Nếu không biết sự phải trái ở mình, thì chắc không thể nhận rõ người cán bộ tốt hay xấu”. Phải hiểu rõ cán bộ để nhìn thấy và khơi dậy những điểm tốt, điểm mạnh cũng như nhận ra những điểm yếu của cán bộ, qua đó đưa ra cách sử dụng cán bộ cho phù hợp với trình độ và khả năng của họ. Người lãnh đạo khi làm công tác cán bộ cần phải bảo đảm khách quan, vì công việc, nên tránh:“1. Ham dùng người bà con, anh em quen biết, bầu bạn, cho họ là chắc chắn hơn người ngoài. 2. Ham dùng những kẻ khéo nịnh hót mình, mà chán ghét những người chính trực. 3. Ham dùng những người tính tình hợp với mình, mà tránh những người tính tình không hợp với mình.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi người làm công tác cán bộ phải sáng suốt, có tâm trong sáng, độ lượng, khoan dung, vị tha, không thành kiến, hẹp hòi; chân thành, cởi mở, gần gũi những cán bộ còn yếu kém, giúp đỡ họ tiến bộ... để họ phấn đấu vươn lên. 

Hai là, Người phân tích rằng, trong thiên hạ, mỗi con người đều có tài riêng, người có tài điều khiển, người có tài điều hành, thực hành. Nếu đem cái tài điều khiển mà lắp vào tài điều hành, thực hành và ngược lại, thì chẳng những không được việc mà còn hỏng việc. Vì vậy, người có tài dùng người bao giờ cũng đem cái tài điều khiển đặt đúng vào chỗ điều khiển, đem cái tài điều hành, thực hành đặt đúng vào chỗ điều hành, thực hành phải hiểu biết cán bộ. Đây là cơ sở quan trọng để sử dụng đúng cán bộ, phải khéo dùng cán bộ. Trong công tác cán bộ phải “khéo dùng” (hay còn gọi là nghệ thuật dùng người), là phải dùng đúng người, đúng việc, đúng năng lực, sở trường, làm cho cán bộ vui vẻ, thoải mái, yên tâm công tác và hăng hái thi đua cống hiến sức mình cho sự nghiệp cách mạng. Vì, “người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người cũng  như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong, đều tuỳ chỗ mà dùng được”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Dùng cán bộ không đúng tài năng của họ, cũng là một cơ thất bại”, Người thí dụ: “Người viết giỏi nhưng nói kém lại dùng vào những việc cần phải nói. Người nói khéo nhưng viết xoàng lại dùng vào công việc viết lách. Thành thử hai người đều không có thành tích”. Người cũng chỉ ra mục đích của việc khéo dùng cán bộ là “cốt để thực hành đầy đủ chính sách của Đảng và Chính phủ” và nếu thực hiện đầy đủ, đúng đắn thì sự nghiệp cách mạng ắt đi đến thắng lợi.          

Ba là, cần có tiêu chuẩn định danh cho từng vị trí, từng cấp cán bộ; bên cạnh đó phải dũng cảm và có bản lĩnh khi đề bạt, cất nhắc cán bộ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người làm công tác cán bộ phải có gan đề bạt, cất nhắc cán bộ. Đó là sự khẳng định, ghi nhận năng lực, sự cống hiến của từng cán bộ, đồng thời động viên khích lệ những người xung quanh, tạo động lực cho họ phấn đấu vươn lên trong công tác. Nếu người tài đức mà không được đề bạt, cất nhắc sẽ bị thui chột tài năng, vì “không có đất để dụng võ”. Người làm công tác cán bộ không được thành kiến, hẹp hòi, ích kỷ, sợ những người được cất nhắc sẽ vượt mình, hay vì cất nhắc người khác lên mà uy tín của mình bị giảm sút. Trước khi đề bạt, cất nhắc phải xem xét, đánh giá phẩm chất đạo đức, năng lực công tác và các mối quan hệ của họ trong quá trình công tác. Cất nhắc “phải vì công tác, tài năng, vì cổ động cho đồng chí khác thêm hăng hái”. Trên cơ sở những ưu điểm, năng lực mà đề bạt, cất nhắc họ một cách khách quan, công tâm, đúng người, đúng việc. Người làm công tác cán bộ “nếu vì lòng yêu ghét, vì thân thích, vì nể nang, nhất định không ai phục”  và như thế là “có tội với Đảng, với đồng bào”. Hơn nữa, không nên cất nhắc cán bộ  như “Giã gạo”. “Nghĩa là trước khi cất nhắc không xem xét kỹ. Khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ. Khi họ sai lầm thì đẩy xuống, chờ lúc họ làm khá, lại cất nhắc lên. Một cán bộ bị nhắc lên thả xuống ba lần như thế là hỏng cả đời”. Do vậy, đề bạt, cất nhắc cán bộ phải xem xét hết sức cẩn thận, chính xác, sau khi cất nhắc còn phải giúp đỡ họ để họ vững tin công tác.   

Bốn là, phải tin tưởng, yêu thương, giúp đỡ cán bộ. Tin tưởng cán bộ là sự tôn trọng phẩm chất, năng lực của cán bộ. Tin tưởng trao việc cho họ, “cho họ quyền chủ động làm, cho họ quyền phụ trách”, không bao biện làm thay; nhưng có kiểm tra, giám sát. Có như vậy, họ mới phấn khởi, mạnh dạn, tin vào năng lực của mình, dám làm dám chịu trách nhiệm, vượt qua khó khăn để vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ. Yêu thương, giúp đỡ cán bộ phải xuất phát từ lợi ích chung của cách mạng. Yêu thương là giúp họ học tập, rèn luyện, trau dồi thêm kiến thức chuyên môn, lý luận. Là giúp họ giải quyết những vấn đề khó khăn trong công tác, trong cuộc sống và phải vun đắp ý chí cho họ. Yêu thương, giúp đỡ để họ ngày càng tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn, cống hiến nhiều hơn cho cách mạng.     

Năm là, cần có sự luân chuyển cán bộ. Người xưa có câu: “Quyền bính không nên giữ lâu, giữ lâu thì sinh biến!” Trong công tác cán bộ, cần phải chú trọng thực hiện việc luân chuyển cán bộ. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Qua từng thời gian công tác sẽ luân chuyển” nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác của cán bộ. Thông qua thực tiễn để rèn luyện, thử thách cán bộ, làm cho cán bộ thích ứng với nhiệm vụ Đảng giao, phát huy năng lực của mình ở mức cao hơn trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Qua việc luân chuyển cán bộ, phát hiện được điểm mạnh, điểm yếu của họ để từ đó bổ nhiệm công tác phù hợp hơn. Tuy nhiên, thực hiện luân chuyển cán bộ cần có quy định cụ thể, rõ ràng, có chính sách đãi ngộ phù hợp với hoàn cảnh của họ. Vừa qua Đảng, Nhà nước ta cũng quy định các chức danh bầu, bổ nhiệm không được quá hai nhiệm kỳ (nhiệm kỳ 5 năm). Đây cũng là sự đổi mới và học tập theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 

Sáu là, trong sử dụng cán bộ cần phải kết hợp các loại cán bộ trên tinh thần đoàn kết cùng hướng tới mục đích chung là hoàn thành nhiệm vụ một cách tốt nhất; không cục bộ, hẹp hòi, phải khách quan, toàn diện Trong kết hợp các loại cán bộ phải bảo đảm tính kế thừa và phát triển. Phải kết hợp giữa cán bộ lớn tuổi và cán bộ trẻ, lớp cán bộ cũ và cán bộ mới, tạo nguồn cán bộ kế cận để bảo đảm sự chuyển giao công việc, phải bồi dưỡng cán bộ cách mạng cho đời sau. Theo Hồ Chí Minh, cán bộ già là vốn quý của Đảng, vì họ được đào tạo, rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, họ đã có nhiều kinh nghiệm và nhiều cống hiến cho Đảng, cho dân tộc. Cán bộ trẻ chưa được rèn luyện nhiều, chưa có nhiều kinh nghiệm như cán bộ già nhưng họ có ưu điểm là sức trẻ, nhạy bén với cái mới, được đào tạo bài bản, tiến bộ nhanh, giàu sáng kiến. Do đó, Đảng phải khéo kết hợp lớp cán bộ già và cán bộ trẻ trong công việc. Cán bộ già phải giúp đỡ, dìu dắt và làm gương cho cán bộ trẻ, không nên coi thường cán bộ trẻ. Cán bộ trẻ phải khiêm tốn học hỏi những người đi trước, rèn luyện, tích luỹ kinh nghiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ.           

Bảy là, cần làm tốtkiểm tra, phê bình, khen thưởng cán bộ. Kiểm tra, phê bình để xem xét công tác, học tập, giúp đỡ người tiến bộ ít, khen ngợi người tiến bộ nhiều, phát huy mặt tích cực, khắc phục, sửa chữa những sai lầm, thiếu sót. Theo Hồ Chí Minh: “Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời”. Kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên, phải phối hợp chặt chẽ, kiểm tra “từ trên xuống”“từ dưới lên”, phải dựa vào lực lượng quần chúng nhân dân để góp ý, phê bình cán bộ. Tuy nhiên, trong phê bình “chớ có thái độ gay gắt” mà phải phê bình trên tinh thần góp ý chân thành để họ tiến bộ. Phải phê bình đúng và giải thích cho họ hiểu. Phê bình đúng sẽ giúp họ tự nhận rõ sai lầm, khuyết điểm của mình và vui lòng sửa chữa. Cán bộ mắc lỗi thì phải chịu kỷ luật của tổ chức, hình thức kỷ luật phải công khai, minh bạch, đúng người, đúng lỗi. Nếu không thi hành kỷ luật thì sẽ mất kỷ cương, nề nếp của tổ chức, sẽ mở đường cho những kẻ cố ý phá hoại. Đồng thời, phải khen thưởng kịp thời để khích lệ, động viên họ, nhưng phân tích cho họ hiểu, “chớ kiêu ngạo”, “tự mãn” với thành tích đạt được. Bởi “Kiêu ngạo là bước đầu của thất bại”.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng mà phát triển và củng cố, cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Vì vậy, đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên phải bền bỉ trau dồi, hun đúc nâng cao đạo đức cách mạng. Đó là cơ sở quan trọng để Đảng và Nhà nước lại thực hiện tốt công tác trọng dụng cán bộ, đảng viên. Thiết nghĩ những tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về sử dụng cán bộ vẫn còn nguyên giá trị. Đó cũng chính là kế sách vô cùng quan trọng cho hôm nay và cho mai sau để giữ gìn độc lập tự do, chủ quyền của quốc gia, dân tộc và phát triển đất nước. Tiếp tục kế thừa vận dụng sáng tạo tư tưởng, quan điểm của Người trong việc thực hiện công tác cán bộ. Trong những nhiệm kỳ qua, Đảng, Nhà nước ta đã làm khá tốt công tác này. Vừa qua, Đại hội XI khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ. Thực hiện tốt Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; đổi mới tư duy, cách làm, khắc phục những yếu kém trong từng khâu của công tác cán bộ... sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở những tiêu chuẩn, quy trình đã được bổ sung, hoàn thiện, lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu”.

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 11 từ ngày 4 đến ngày 7/5/ 2015 vừa qua, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thảo luận về phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XII; số lượng đại biểu và việc phân bổ đại biểu dự Đại hội XII của Đảng.Tại Hội nghị này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gợi mở: Trong công tác chuẩn bị nhân sự, phải chăng cần đặc biệt nhấn mạnh phải có tinh thần trách nhiệm rất cao, thật sự công tâm, khách quan, trong sáng, gương mẫu, chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức, quy chế, quy định của Đảng, đặt sự nghiệp chung của Đảng, của dân tộc lên trên hết, trước hết? Kiên quyết chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, bè phái, "lợi ích nhóm"... Đối với cán bộ cấp cao, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: Trong thời điểm hiện nay, mỗi Ủy viên Trung ương cần phải có bản lĩnh chính trị thật vững vàng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, Hiến pháp của nhà nước và lợi ích của dân tộc; có phẩm chất đạo đức và lối sống trong sáng, gương mẫu, không tham nhũng, cơ hội, tham vọng quyền lực; có ý thức giữ gìn và bảo vệ sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, được quần chúng thực sự tin yêu. Cần phát huy năng lực, sở trường của người cán bộ, nâng cao hiệu quả công tác, đáp ứng nhu cầu của sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển của đất nước./.

Nguyễn Xuân Diên 

Lượt xem: 472

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.