Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh

Đa số ý kiến tán thành sự cần thiết ban hành Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, đặc biệt là trong tình hình hiện nay yêu cầu trang bị kiến thức quốc phòng, an ninh là một yêu cầu tất yếu khách quan, đồng thời thể chế hóa kịp thời quan điểm chỉ đạo của Đảng về “đổi mới căn bản, toàn diện công tác giáo dục đào tạo”.

          Thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2013 của Quốc hội và Chương trình hoạt động năm 2013, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh chuẩn bị cho kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII.

         Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh, cụ thể như sau:

I – NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG:

Đa số ý kiến tán thành sự cần thiết ban hành Luật Giáo dục Quốc phòng và An ninh, đặc biệt là trong tình hình hiện nay yêu cầu trang bị kiến thức quốc phòng, an ninh là một yêu cầu tất yếu khách quan, đồng thời thể chế hóa kịp thời quan điểm chỉ đạo của Đảng về “Đổi mới căn bản, toàn diện công tác giáo dục đào tạo” nêu tại Chỉ thị 12/CT-TW ngày 03 tháng 5 năm 2007 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng - an ninh trong tình hình mới.

1. Về tên gọi của Luật:

Đa số ý kiến nhất trí với tên gọi như dự thảo Luật. Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến đề nghị sửa tên gọi của Luật thành “Luật Giáo dục kiến thức quốc phòng và an ninh” vì cho rằng “quốc phòng” và “an ninh” là hai phạm trù khác nhau, đã được quy định tại Luật Quốc phòng và Luật An ninh quốc gia.

2. Về bố cục Luật:

Có ý kiến cho rằng Dự thảo Luật có nhiều điều khoản không cụ thể mà lại giao cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn như: khoản 4 Điều 8, Điều 17, điểm b khoản 3 Điều 23, khoản 4 Điều 29, khoản 4 Điều 30, khoản 4 Điều 43; giao cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ, Bộ Lao động, thương binh và xã hội tại các Điều 34, 35, 36, 37, 38. Tuy nhiên, có những điều khoản lại quy định chung chung, không quy định cụ thể giao trách nhiệm cho cơ quan nào như Điều 25, khoản 4 Điều 28. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, chỉnh sửa nên quy định chi tiết và hạn chế việc hướng dẫn thi hành.

- Mục 1, chương V về giáo viên, giảng viên, báo cáo viên, tuyên truyền viên giáo dục quốc phòng và an ninh: Có ý kiến đề nghị cân nhắc các quy định tại mục này để bảo đảm tính khả thi về trình độ chuẩn đối với giáo viên, giảng viên cho từng cấp học, bậc học trong nhà trường và hệ thống các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Giáo dục và đào tạo.

- Điều 34, 36, 38, 41: Một số ý kiến cho rằng Điều 34, 36, 38 các Bộ quy định chương trình khung giáo dục quốc phòng và an ninh nhưng khoản 1 điều 41 lại quy định Ủy ban nhân dân các cấp ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch, đề án về giáo dục quốc phòng và an ninh. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu lại nội dung các chế định này cho phù hợp, dễ hiểu, dễ thực hiện; Có ý kiến đề nghị cho Bộ Quốc phòng quy định chương trình khung giáo dục quốc phòng và an ninh.

- Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định thêm nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vào Chương VI của Dự thảo Luật.

II – VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ CỤ THỂ:

1. Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

- Có ý kiến đề nghị thêm phạm vi điều chỉnh “cơ chế bảo đảm cho hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh”.

- Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định đối với đối tượng đã hoàn thành chương trình học ở nước ngoài về Việt Nam phải được bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh vào phạm vi điều chỉnh.

2. Về đối tượng áp dụng (Điều 2)

Khoản 2: Có ý kiến đề nghị sửa thành “Tổ chức, cá nhân nước ngoài cư trú, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm tuân theo quy định có liên quan đến điều ước quốc tế không không trái với Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và của pháp luật Việt Namvề giáo dục quốc phòng và an ninh

3. Về giải thích từ ngữ (Điều 3)

Có ý kiến đề nghị bổ sung giải thích các thuật ngữ: “quốc phòng”, “an ninh

4. Về mục tiêu giáo dục quốc phòng và an ninh (Điều 4)

- Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “Bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh lãnh thổ” vào cuối Điều.

- Có ý kiến đề nghị bổ sung và viết lại như sau “Giáo dục cho công dân đường lối, nhiệm vụ quốc phòng và an ninh, kỹ năng quân sự cần thiết, phát huy tinh thần yêu nước, truyền thống chống ngoại xâm, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tự giác thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh nhằm bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ quốc gia

5. Về nguyên tắc giáo dục quốc phòng và an ninh (Điều 5)

- Khoản 1: Một số ý kiến đề nghị rút gọn khoản này như sau “1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

- Khoản 3: Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “văn hóa, đạo đức” sau từ “kết hợp với giáo dục” và viết lại thành “3. Kết hợp với giáo dục văn hóa, đạo đức, chính trị tư tưởng, phổ biến, giáo dục pháp luật và gắn với xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện

- Có ý kiến đề nghị bổ sung khoản 7: “7. Nội dung giáo dục quốc phòng và an ninh phải đáp ứng kịp thời với tình hình thực tế trong từng giai đoạn

6. Về chính sách của Nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh (Điều 6)

- Có ý kiến đề nghị bổ sung thêm khoản 4: “4. Nhà nước bảo đảm kinh phí cho giáo dục quốc phòng và an ninh

- Có ý kiến đề nghị gộp khoản 2, khoản 3 thành một khoản “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đóng góp cho giáo dục quốc phòng và an ninh và được khen thưởng theo quy định của pháp luật” để tránh trùng lặp.

7. Về các hành vi bị cấm (Điều 9)

Khoản 1: Một số ý kiến đề nghị bổ sung nội dung “xâm phạm chủ quyền lãnh thổ” và viết lại thành “Lợi dụng hoạt động giáo dục quốc phòng và an ninh để tuyên truyền xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tiết lộ bí mật nhà nước; xâm phạm chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

8. Về giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh tiểu học, trung học cơ sở (Điều 10)

- Có ý kiến cho rằng chương trình, nội dung học của đối tượng này hiện tại đang bị quá tải. Đề nghị chưa áp dụng nội dung giáo dục quốc phòng và an ninh vào cấp học này.

- Đa số ý kiến tán thành quy định lồng ghép nội dung về giáo dục quốc phòng và an ninh vào chương trình học của cấp học này là phù hợp.

9 .Về giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh trung học phổ thông và tương đương, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp (Điều 11)

Khoản 1: Có ý kiến cho rằng quy định “Giáo dục quốc phòng và an ninh … là môn học chính khóa” là chưa chính xác. Đề nghị sửa thành “Giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh trung học phổ thông và tương đương, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp được quy định trong môn học chính khóa

10. Về giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên cao đẳng nghề, cao đẳng, đại học (Điều 12)

- Khoản 3: Có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ “hoặc cơ sở giáo dục đại học” vì theo quy định tại khoản 2 Điều 8 dự thảo Luật này thì giáo dục quốc phòng và an ninh được tổ chức tại trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh thuộc nhà trường quân đội và trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh thuộc cơ sở giáo dục đại học. Vì vậy, giáo dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên cao đẳng nghề, cao đẳng, đại học phải được thực hiện tại các trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh thuộc cơ sở giáo dục đại học chứ không phải ở cơ sở giáo dục đại học.

- Có ý kiến đề nghị bổ sung khoản 4: “4. Giáo dục tinh thần yêu nước, truyền thống chống giặc ngoại xâm, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao ý thức trách nhiệm, tự giác, từ đó thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh

11. Về bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng trong các cơ quan, tổ chức nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội (Điều 14)

- Điểm a, khoản 2: Có ý kiến đề nghị mở rộng đối tượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh bao gồm công chức, viên chức không giữ chức vụ quản lý.

- Điểm c, khoản 2: Một số ý kiến cho rằng nhà nước ta chỉ phân thành bốn cấp hành chính (cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã), không có cấp thôn. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu lại nội dung này.

- Điểm d, khoản 2: Có ý kiến đề nghị bỏ điểm này vì cho rằng mở rộng các đối tượng được bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh đã bao gồm “đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam”;

- Có ý kiến đề nghị bổ sung quy định “Thanh niên dưới 25 tuổi”; “đại biểu dân cử” là đối tượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh.

12. Về bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho người giữ chức vụ quản lý trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập (Điều 15)

- Có ý kiến đề nghị nên quy định đối với những người giữ chức vụ quản lý trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập trước khi được bổ nhiệm cần phải có chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh.

- Có ý kiến đề nghị gộp Điều này với Điều 22 quy định việc bồi dưỡng, phổ biến kiến thức giáo dục quốc phòng và an ninh cho người giữ chức vụ quản lý trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập.

13. Về chế độ, quyền lợi đối với đối tượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh (Điều 18)

- Khoản 1, khoản 2: Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “cung cấp tài liệu” sau từ “phụ cấp” và viết lại thành: “1. Đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 14 của Luật này khi bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh được hưởng nguyên lương, phụ cấp, cung cấp tài liệu; xa nơi cư trú được bố trí nơi nghỉ, hỗ trợ phương tiện hoặc thanh toán tiền tàu, xe một lần đi về, hỗ trợ tiền ăn do ngân sách nhà nước bảo đảm.

2. Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 15 của Luật này khi bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh được hưởng nguyên lương, phụ cấp, cung cấp tài liệu, hỗ trợ phương tiện hoặc thanh toán tiền tàu, xe một lần đi, về và hỗ trợ tiền ăn do doanh nghiệp ngoài nhà nước, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập bảo đảm; chi phí bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh và nơi nghỉ cho các đối tượng xa nơi cư trú do ngân sách nhà nước bảo đảm.

- Có ý kiến đề nghị không quy định chi tiết như dự thảo Luật mà giao cho Bộ Tài chính quy định chi tiết nội dung điều này.

14. Về nội dung phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân (Điều 19)

Có ý kiến đề nghị bổ sung và viết lại như sau “Bảo đảm cho người dân có nhận thức  về chủ quyền quốc gia, an ninh lãnh thổ, về âm mưu, thủ đoạn hành vi  chống phá, xâm lược của các cá nhân, tổ chức và quốc gia khác; nhiệm vụ quốc phòng và an ninh trong từng thời kỳ; các biện pháp phòng thủ dân sự; trách nhiệm của công dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

15. Về hình thức phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh toàn dân (Điều 20)

Có ý kiến đề nghị bổ sung khoản 6: “6. Biên soạn tờ rơi, tờ gấp, biên soạn hỏi và đáp có nội dung thiết thực về giáo dục quốc phòng và an ninh liên quan đến từng đối tượng

16. Về phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng trong các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp (Điều 22)

Khoản 3: Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm “Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật” và viết lại thành “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo cơ quan quân sự, công an, hội đồng phối hợp phổ biến giáo dục pháp luật cùng cấp tổ chức phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này

          17. Về lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách giáo dục quốc phòng và an ninh (Điều 31)

          Khoản 1: Có ý kiến cho rằng quy định tại khoản này là “Chi thường xuyên” là không phù hợp với thực tế. Đề nghị Ban soạn thảo xem xét lại quy định tại khoản này.

18. Về lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách giáo dục quốc phòng và an ninh (Điều 31)

          Khoản 1: Có ý kiến đề nghị sửa “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” thành “Ủy ban nhân dân các cấp” để phù hợp với quy định tại khoản 5 Điều 41 của dự thảo Luật.

19. Về điều khoản thi hành (Chương VII)

- Có ý kiến cho rằng dự thảo Luật được biên soạn phù hợp với Hiến pháp năm 1992 và sẽ có hiệu lực từ 01/01/2014, như vậy sau khi Hiến pháp 1992 sửa đổi có hiệu lực thì Luật này có còn phù hợp không? Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu  nội dung này.

- Điều 46: Có ý kiến đề nghị bỏ cụm từ “cơ quan có thẩm quyền” và viết lại như sau: “Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật”./.

ĐOÀN ĐBQH HÀ NỘI

Lượt xem: 656

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.