70 năm nghị trường Quốc hội, HĐND các cấp: Niềm vui phải giữ gìn và lan tỏa

Trải 70 năm qua, hoạt động nghị trường Quốc hội cũng như HĐND các cấp; lớp lớp những người đại biểu nhân dân với phẩm chất đạo đức trong sáng, giàu trí tuệ; có bản lĩnh và nghĩa khí; vì dân, vì nước kế tiếp nhau góp phần làm nên những thành quả của Quốc hội, HĐND nói riêng và thành quả của công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển chung của đất nước, của từng địa phương. Những hình ảnh đẹp của họ đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng cử tri và nhân dân cả nước. Người đại biểu nhân dân phải thấy đó là niềm vui, niềm tự hào lớn và cần phải giữ gìn, lan tỏa!

Kể từ tháng 1 năm 1946, khi tiến hành cuộc tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội Việt Nam đến nay, đã có trên 6000 người được cử tri cả nước bầu làm Đại biểu Quốc hội, còn với đại biểu HĐND các cấp, con số lớn gấp rất nhiều lần. Thực tế cho thấy, mỗi lần bầu cử Đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, căn cứ vào các quy đinh của hiến pháp, pháp luật, các cấp ủy đảng, chính quyền và Ủy ban MTTQ từ trung ương đến địa phương đều rất vất vả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, đầu tư công sức, trí tuệ, cơ sở vật chất, an ninh trật tự để bảo đảm tổ chức thành công cuộc bầu cử. Bản thân các ứng cử viên cũng phải lo toan chuẩn bị đầy đủ những điều kiện để đáp ứng các tiêu chuẩn người đại biểu và con phải trau dồi kỹ năng, cách thức vận động bầu cử để làm sao đạt được nguyện vọng chí hướng của mình…Nhìn chung, các ứng cử viên được lựa chọn đều bảo đảm đủ tiêu chuẩn, có động cơ, mục đích trong sáng, xác định rõ làm đại biểu là để cống hiến cho dân, cho nước. Người được bầu làm đại biểu nhân dân thật đúng là một vinh dự lớn; phải thấy được điều đó và phải quyết tâm làm tốt nhiệm vụ, trọng trách cử tri và nhân dân giao phó.

Trải qua 14 nhiệm kỳ Quốc hội và nhiều khóa nhiệm kỳ HĐND các cấp; cử tri và các tầng lớp nhân dân cả nước không phủ nhận những công tích của các cơ quan dân cử trên các lĩnh vực xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật để quản lý nhà nước; giám sát các vấn đề quan trọng, các vấn đề “nóng và bức xúc” mà cử tri kiến nghị, khiếu nại, tố cáo… Với chức năng xây dựng pháp luật, 13 nhiệm kỳ qua, Quốc hội đã hoàn thành tốt việc xây dựng hệ thống pháp luật trong đó có Hiến pháp và hàng trăm đạo luật, giúp cho Nhà nước điều hành quản lý trên các lĩnh vực quan hệ xã hội…. Với chức năng giám sát, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn ĐBQH các tỉnh, thành phố đã thực hiện hàng trăm kỳ, cuộc giám sát dưới nhiều hình thức như thành lập Đoàn giám sát tại cơ sở, chất vấn tại nghị trường…mang lại hiệu quả, nhiều vụ việc tham nhũng lãng phí, thông qua hoạt động giám sát đã phát hiện xử lý và ngăn chặn. Hoạt động tiếp xúc cử tri thường kỳ và chuyên đề; hoạt động tiếp công dân của đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND không ngừng đổi mới; thông các qua hoạt động này nhiều ý kiến kiến nghị của cử tri; nhiều đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân đã được chuyển đến các cơ quan, người có thẩm quyền xem xét giải quyết… Có thể khẳng định vai trò của các cơ quan dân cử, các đại biểu dân cử đã và đang góp phần làm cho Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam trở nên hoàn thiện, thành một nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân. Qua khảo sát thực tế ở nhiều địa phương, đa số cử tri và nhân dân có rất nhiều ấn tượng tốt đẹp về Quốc hội và đại biểu Quốc hội, về HĐND và đại biểu HĐND khi họ được theo dõi và chứng kiến diễn biến tại các kỳ họp, đại biểu thảo luận quyết định đúng và trúng những vấn đề quan trong của đất nước, của địa phương; hoạt động giám sát của đại biểu bằng hình thức chất vấn trực tiếp; cũng như được chứng kiến các hoạt động khác của nhiều đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND giữa hai kỳ họp.

Tại hội nghị kỷ niệm 70 năm ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội Việt Nam, một vị đại biểu cử tri thành phố Hà Nội phát biểu: “Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam có câu:“ Trông mặt mà bắt hình dong…” . Chất lượng đại biểu thế nào thì hiệu quả hoạt động của Quốc hội thế đó.” Có đại biểu tâm sự: “Tôi là người rất bản lĩnh trước những vấn đề tình cảm. Nhưng kỳ lạ, hôm vận động bầu cử, đọc lời hứa của mình trước cử tri tôi run và lo lắng. Tan cuộc rồi, về nhà ngẫm nghĩ không biết sau này nếu trúng đại biểu sẽ làm gì đây để xứng đáng với niềm tin, sự tín nhiệm của cử tri…” . Có đại biểu giãi bày: “Khi chưa làm đại biểu bạn bè nhìn tôi, ứng xử với tôi rất xuề xòa, giản đơn. Ấy mà khi tôi làm đại biểu Quốc hội, họ rất ý tứ khi giao tiếp, kể cả cái bắt tay với tôi… Hành động ấy khiến tôi trăn trở phải làm gì để thân thiện hơn, xóa đi khoảng cách ấy…” . Trong quá trình hoạt động, vui có, nhung buồn cũng có. Không ít đại biểu trăn trở và thấy mình bất lực trước nhũng sự việc sai trái mà tai nghe mắt thấy, thậm trí đã giám sát và đã có kiến nghị đối với cơ quan, người có thẩm quyền; nhưng việc giải quyết, khắc phục vẫn không được thực hiện… Bởi quyền của đại biểu chung chung; lực của đại biểu phải nói là hạn hẹp, không tương xứng. Ngay tại thành phố Hà Nội, trước những phản ánh, bức xúc của cử tri, có đại biểu Quốc hội đã vi hành rất vất vả đi khảo sát tìm hiểu tình trạng ô nhiễm sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tô Lịch. Khi có đủ “chứng cứ” , đại biểu làm văn bản kiến nghị gửi cơ quan, người có thẩm quyền … Rồi thời gian cứ lặng lẽ trôi, những dòng sông vẫn là dòng sông chết… Đại biểu tâm sự “Tôi thấy bất lực và thất vọng trước lời hứa của chính mình…

Tuy nhiên vẫn còn thực tế đáng buồn và cần có sự nhìn thẳng để đánh giá một cách công bằng, khách quan đối với hoạt động của đại biểu Quốc hội cũng như đại biểu HĐND các cấp. Đó là: Trong các hội nghị gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri, vận động bầu cử, người ứng cử đại biểu thường đưa ra những lời hứa, cam kết bằng chương trình hành động của mình. Tuy nhiên không ít đại biểu đã quên lời hứa, “lời nói gió bay” hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn, đã làm mất lòng tin của cử tri. Có cử tri tâm sự: “Lần nào đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu HĐND về tiếp xúc cử tri ở địa phương tôi, với trách nhiệm là thành viên Hội Cựu chiên binh, tôi đều được tham dự. Nhưng thật buồn vì thấy có đại biểu còn có lỗi giữa nói và làm. Vấn đề về ô nhiễm các con sông lần trước tôi đã phát biểu, không thấy chuyển biến, cách hai kỳ sau tôi lại nêu kiến nghị. Thật buồn, vị đại biểu tiếp thu bảo đây là lần đầu tiên chúng tôi nghe kiến nghị này?...”. Tại nghị trường, vẫn còn thực trạng đa số các ý kiến phát biểu thảo luận và chất vấn thuộc về đại biểu chuyên trách và đại thuộc các đoàn thể, không thuộc cơ quan quản lý nhà nước…Vẫn còn một số đại biểu cuối nhiệm kỳ mới dám “nói to” về các vấn đề mà cử tri bức xúc. Và đa số đại biểu là “Quan to” thường “im hơi, lặng tiếng”, né tránh chất vấn tại nghị trường về những vấn đề “nóng” hoặc vấn đề cử tri và nhân dân đang bức xúc như: Tham nhũng, lãng phí, lợi ích nhóm,... Nếu họ có phát biểu thì phát theo kiểu chung chung chi sự, “bắn chỉ thiên” không thể hiện rõ quan điểm và thường không nhiệt tình tham dự các hoạt động giám sát của các cơ quan Quốc hội hoặc HĐND… Ở HĐND cấp huyện và cấp xã vần còn tình trạng “dĩ hòa vi quý” , “mũ ni che tai”, đại biểu rất ít hoặc không tham gia phát biểu; khiến cho hoạt động thảo luận hoặc chất vấn tại các kỳ họp HĐND rất buồn tẻ. Tại nghị trường Quốc hội, bao giờ các báo cáo của Chính phủ và các bộ ngành cũng nêu rất nhiều thành tích, đề cập đến khiếm khuyết rất ít; hoặc tại nghị trường HĐND báo cáo của UBND và các ngành cũng vậy; nếu đại biểu không đủ trình độ, lơ mơ, không có tư duy, bản lĩnh thì đọc xong thường cho qua luôn. Những đại biểu như vậy họ đã và đang là “Nghị gật” làm ảnh hưởng xầu đến các hoạt động của cơ quan dân cử, làm xấu hình ảnh đại biểu dân cử, khiến cho lòng tin của cử tri và nhân dân đối với cơ quan dân cử và đại biểu dân cử giảm sút! Một nhiệm kỳ Quốc hội, HĐND là 5 năm phải thực hiện nhiều công việc rất quan trọng, rất nặng nề. Thế nhưng đáng buồn là khá nhiều đại biểu lại coi đó là một việc phụ. Có người cố đạt được mục đích làm đại biểu để lấy thương hiệu… Thời gian qua, ở Quốc hội cũng như HĐND các cấp ở địa phương, trong quá trình hoạt động, có những vị đại biểu do không hoàn thành nhiệm vụ phải bãi nhiệm, vi phạm pháp luật phải bãi miễn; hoặc buộc phải rờivị trí được nhân dân giao phó…

Nhiệm kỳ Quốc hội và HĐND là 5 năm. Khoảng thời gian vừa phải và tương đồng với các nhiệm kỳ nghị viện ở các nước trên thế giới. Có người chỉ tham gia làm đại biểu đủ một nhiệm kỳ, có người tham gia nhiều nhiệm kỳ, quá trình hoạt động có thành công nhưng cũng có thất bại; bởi các nguyên nhân khách quan nhưng cũng có nguyên nhân từ chủ quan của đại biểu. Đúng là buồn vui nhiều ít đan xen, chỉ có đại biểu mới suy ngẫm thấm thía… Thiết nghĩ muốn tăng niềm vui và xua bớt đi nỗi buồn đại biểu cần phải có những giải pháp chung và riêng.

Trước hết phải khẳng định rằng chất lượng hiệu quả hoạt động của các cơ quan dân cử phụ thuộc vào chất lượng đại biểu. Do đó khi tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội cũng như đại biểu HĐND các cấp phái chú trọng công tác lựa chọn ứng cử viên, nhất là việc lãnh đạo, chỉ đạo về nhân sự, cơ cấu, phải có thái độ kiên quyết xử lý sự lợi dụng bè phái, lợi ích nhóm. Về phía cử tri khi đi bầu cử cũng phải công tâm, khách quan chọn những người xứng đáng nhất của dân, tuyệt đối không “tặc lưỡi” để bầu cho xong. Không để xảy ra lỗi để “Lọt lưới” những người thiếu trách nhiệm vào làm đại biểu của cơ quan dân cử, loại bỏ được những người không có tài, đức vào bộ máy công quyền. Đây không chỉ là để thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng XII mà còn là nguyện vọng của cử tri và nhân dân cả nước.

 Hai là, trong tiến trình phát triển của xã hội Việt nam và Quốc tế ngày nay đã khác xa trước đây; hoạt động nghị trường cũng nhiều áp lực đòi hỏi chiều sâu và sự đổi mới; trình độ dân trí cũng thay đổi. Đại biểu Quốc hội hay đại biểu HĐND cần phải hiểu biết vè quyền và trách nhiệm của mình; phải coi việc làm người đại biểu là việc chính. Đại biểu trong quá trình hoạt động phải biết giữ lời hứa và biến thành hiện thực. Vẫn biết rằng để thực hiện có hiệu quả lời hứa còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố và cần có sự giúp đỡ, tạo điều kiện, sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức liên quan. Nhưng trách nhiệm trước hết vẫn thuộc về người đại biểu. Đại biểu phải gắn bó để thấu hiểu cử tri và để được lòng tin của cử tri thì đại biểu phải không ngừng tu dưỡng tâm đức trong sáng vì dân, vì nước.

 Ba là đại biểu phải xác định rõ vinh dự, trách nhiệm và tâm thế của người đại diện cho toàn dân, đại diện cho những người chủ của đất nước. Sức mạnh và thế lực của đại biểu là sức mạnh của toàn dân. Quốc hội và HĐND hoạt động theo cơ chế theo biểu quyết đa số. Nếu chỉ một mình mình rung cảm, một mình mình kiến nghị sẽ không có giá trị. Do đó đại biểu dân cử không những phải phẩm chất, trí tuệ, bản lĩnh dám nói và dám làm. Đại biểu phải có nghĩa khí vượt lên trên những áp lực về lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm, những mối quan hệ trên dưới, ngang dọc vô cùng phức tạp, sự đe dọa bên ngoài hay áp lực từ chính trong nội bộ của mình và biết lan tỏa ủng hộ những cái tốt, cái đúng; chống lại sai trái; phải có dũng khí để thể hiện chính kiến với từng vấn đề, từng vụ việc…

Bốn là, với người đại biểu có trách nhiệm biết lo cho dân, cho nước thì 5 năm thật ngắn; họ mong có thời gian để lo cho dân, cho nước, canh cánh có khi mất ăn, mất ngủ, trăn trở nhiều vấn đề khi xây dựng pháp luật, quyết định, giám sát…. Nhưng với đại biểu thiếu trách nhiệm, đại biểu có cái đầu trơ và trái tim nguội lạnh thì 5 năm hoạt động đại biểu với họ chỉ là phụ và lặng lẽ qua đi, không dấu ấn, không tâm tư. Bởi vậy, ngoài việc thường xuyên nâng cao trách nhiệm đại biểu thì Quốc hội cần xem xét bổ sung, cụ thể hơn các quy định của pháp luật về quyền và trách nhiệm của đại biểu; Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Thường trực HĐND các cấp cũng cần có Quy chế quy định cụ thể và sát thực về các tiêu chí theo dõi đánh giá hoạt động đại biểu; kiên quyết không để những đại biểu không xứng là “công bộc của dân” tồn tại trong các cơ quan dân cử.

Trải 70 năm qua, hoạt động nghị trường Quốc hội cũng như HĐND các cấp; lớp lớp những người đại biểu nhân dân với phẩm chất đạo đức trong sáng, giàu trí tuệ; có bản lĩnh và nghĩa khí; vì dân, vì nước kế tiếp nhau góp phần làm nên những thành quả của Quốc hội, HĐND nói riêng và thành quả của công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển chung của đất nước, của từng địa phương. Những hình ảnh đẹp của họ đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng cử tri và nhân dân cả nước. Người đại biểu nhân dân phải thấy đó là niềm vui, niềm tự hào lớn và cần phải giữ gìn, lan tỏa!

Nguyễn Xuân Diên 

Lượt xem: 599

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.