Bộ Nông nghiệp và PTNT trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội Đinh Xuân Thảo

Đại biểu Quốc hội Đinh Xuân Thảo, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã gửi nội dung chất vấn tới Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT 03 câu về: Tháo gỡ khó khăn cho ngành cá tra Việt Nam; hỗ trợ ngư dân đóng tàu khai thác xa bờ và đầu tư cho việc bảo quản sau thu hoạch, chế biến và thương mại thuỷ sản; về quản lý, sử dụng thuốc diệt cỏ.

Đại biểu Quốc hội Đinh Xuân Thảo, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã gửi nội dung chất vấn tới Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT:

1. Một số quy định của Nghị định 36/2014 của Chính phủ, như việc quy định cứng nhắc về hàm ẩm và tỷ lệ mạ băng và việc bắt buộc đăng ký hp đồng xuất khẩu, đã gây khó khăn, ách tắc cho việc xuất khẩu cá tra. Hiệp hội VASEP và cộng đồng doanh nghiệp đã nhiều lần kiến nghị phải tháo gỡ, Chính phủ cũng đã phải hoãn thi hành 1 năm và có Nghị quyết về tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Vậy mà tại hội nghị ở Cần Thơ ngày 10/6/2015, đại diện Bộ Nông nghiệp và PTNT vẫn giữ nguyên quan điểm. Đ nghị Bộ trưởng cho biết tại sao Bộ Nông nghiệp và PTNT vẫn chưa thực hiện đề xuất sửa đổi Nghị định 36/2014? Bao giờ Bộ mới thực hiện để tháo gỡ khó khăn cho ngành cá tra Việt Nam?

2. Nghị định số 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ về hỗ trợ ngư dân đóng tàu khai thác xa bờ đã triển khai rất nhanh và tích cực. Tuy nhiên, như Bộ trưởng nói, số tàu đánh bắt xa bờ của ta đã vượt quá khả năng cho phép khai thác của nguồn lợi thuỷ sản. Vậy nên chăng cần chuyển sang đầu tư cho việc bảo quản sau thu hoạch, chế biến và thương mại thuỷ sản?

3. Tôi rất đồng tình và hoan nghênh việc Bộ trưởng đã nói cần quan tâm đến an toàn của 90 triệu người dân Việt Nam, nhưng hiện nay, người dân ở nhiều địa phương (Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương...) đang sử dụng thuốc diệt cỏ để triệt bỏ cỏ cả trên đồng ruộng đến các bờ ruộng. Điều này sẽ gây hệ lụy nghiêm trọng đến sức khoẻ con người và môi trường. Xin hỏi Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ trưởng Công thương đã có giải pháp gì về vấn đề này?

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT trả lời:

1. Nghị định số 36/2014 của Chính phủ đã đưa ra khung pháp lý quan trọng để đưa việc sản xuất, chế biến, xuất khẩu cá tra vào nề nếp, bước đầu đã tạo ra sự chuyển biến trong nhận thức cũng như thực tiễn. Việc đăng ký xut khẩu là cần thiết để giám sát thực hiện các chính sách khác của Nghị định. Theo đề nghị của nhiều doanh nghiệp, Chính phủ đã đồng ý hoãn thi hành riêng điều khoản về độ ẩm và mạ băng. Tuy vậy, hầu hết các doanh nghiệp đều ủng hộ phải có quy định ngăn ngừa việc lạm dụng phụ gia để làm tăng độ ẩm, lạm dụng mạ băng, làm mất uy tín sản phẩm cá tra của Việt Nam. Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và PTNT đang phối hp nghiên cứu đề xuất sửa đổi các quy định này theo hướng đưa ra các tiêu chí và lộ trình thực hiện phù hợp với yêu cầu của thị trường để trình Chính phủ trong năm 2015.

2. Tại phiên chất vấn của Quốc hội ngày 11/5/2015, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT đã báo cáo là nguồn lợi thủy sản xa bờ cũng có hạn nên việc tăng thêm số lượng tàu cá đánh bắt xa bờ cũng phải được kiểm soát. Do vậy, thực hiện Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và PTNT đề nghị chỉ hỗ trợ đóng mới bổ sung 2.079 tàu cá xa bờ, đồng thời cần chú trọng tăng cường hỗ trợ về trang thiết bị và kỹ thuật để nâng cao hiệu quả đánh bắt, bảo quản, chế biến, thương mại, giảm tổn thất sau thu hoạch, nâng cao giá trị gia tăng.

3. Hiện nay, tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới, thuốc trừ cỏ đang được sử dụng rất ph biến trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trên lúa gieo thng (lúa sạ), trên cây màu, cây ăn quả, cây công nghiệp... và trên đất không trng trọt. Nhiều nước trên thế giới đã sử dụng rộng rãi các giống cây trồng mang gen kháng thuốc trừ cỏ để nâng cao hiệu quả việc sử dụng thuốc.

Các thuốc trừ cỏ đang sử dụng tại Việt Nam đều được nhập từ nước ngoài và đang được sử dụng rất phổ biến ở nhiều nước khác trên thế giới. Các thuốc trừ cỏ không an toàn, có độ độc cao, khó phân huỷ... đã bị cấm sử dụng và không được nhập cũng như không được sử dụng tại Việt Nam từ nhiều năm nay.

Nếu sử dụng đúng thì thuốc trừ cỏ góp phần quan trọng trong việc giảm chi phí công lao động, nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng và tăng hiệu quả sản xut. Thuốc trừ cỏ cũng rất ít có nguy cơ để lại dư lượng trong nông sản vì thường được sử dụng vào đầu vụ và thường không phun trực tiếp lên cây trồng.

Đ quản lý chặt chẽ thuốc trừ cỏ nói riêng và thuốc BVTV nói chung nhm đảm bảo an toàn cho người sản xuất, cộng đồng, môi trường và đảm bảo an toàn thực phm, trong nhiu năm qua, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành và hướng dẫn các địa phương trong cả nước thực thi các quy định về quản lý thuc BVTV. Hàng năm, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Danh mục các thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam. Trước khi đưa và Danh mục, các thuốc BVTV, trong đó có thuốc trừ cỏ được thẩm định nghiêm ngặt theo quy định về độ an toàn, được khảo nghiệm, đánh giá về hiệu lực sinh học. Khi lưu thông trên thị trường, thuốc phải có nhãn theo quy định để hướng dẫn sử dụng rõ ràng, cụ thể. Bộ cũng luôn quan tâm chỉ đạo công tác thanh tra, kim tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh, buôn bán, sử dụng thuốc BVTV. Đồng thời, Bộ cũng phối hp với các địa phương tổ chức việc tuyên truyn, ph biến kiến thức, nâng cao nhận thức và hiu biết của nông dân và các cán bộ địa phương trong việc sử dụng thuốc BVTV và thuốc trừ cỏ một cách an toàn, hiệu quả.

Gần đây, Bộ đã tham mưu cho Chính phủ trình Quốc hội ban hành Luật Bảo vệ và Kiểm dịch thực vật, trong đó có 01 Chương quy định về quản lý thuốc BVTV, trong đó có quản lý thuốc trừ cỏ theo hướng chặt chẽ và cụ thể hơn so với các quy định trước đây. Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Thông tư số 21/2015/TT-BNNPTNT, ngày 08/6/2015 về quản lý thuốc BVTV. Thông tư mới đã có những quy định mới phù hp với Luật theo hướng chặt chẽ hơn, cụ th hơn trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh, buôn bán và sử dụng thuốc BVTV, trong đó có thuốc trừ cỏ để đảm bảo an toàn cho người, động thực vật và môi trường. Trong Thông tư này cũng quy định cụ thể việc rà soát, loại bỏ khỏi Danh mục các loại thuốc BVTV được các tổ chức quốc tế cảnh báo hoặc trong quá trình sử dụng có bằng chứng về sự mất an toàn của thuốc.

Để tạo được chuyển biến mạnh mẽ hơn trong quản lý thuốc BVTV, trong đó có thuốc trừ cỏ, ngoài việc tiếp tục thực hiện tốt các giải pháp nêu trên, Bộ NN&PTNT đang thực hiện thí điểm phát triển dịch vụ BVTV, đồng thời chỉ đạo xây dựng đề án để trình Chính phủ ban hành chính sách phát triển mạng lưới nhân viên BVTV cấp xã để tăng cường tư vấn, hướng dẫn nông dân sử dụng thuốc BVTV an toàn, hiệu quả và giúp chính quyền cơ sở tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn phòng chống dịch hại và quản lý tốt hơn việc buôn bán, sử dụng thuốc BVTV trên địa bàn.

Toàn văn văn bản trả lời của Bộ Nông nghiệp và PTNT

QUỐC THỊNH

Lượt xem: 596

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Kế hoạch giám sát, kiểm tra công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031

Tin hoạt động - Đoàn ĐBQH 1 ngày trước

Theo nội dung kế hoạch, mục đích của hoạt động giám sát, kiểm tra lần này là nhằm kịp thời nắm bắt tình hình triển khai công tác chuẩn bị bầu cử tại Trung ương và địa phương. Thông qua đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu việc tổ chức bầu cử phải tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật, các nghị quyết và hướng dẫn của Hội đồng bầu cử quốc gia, góp phần đưa sự kiện ngày bầu cử 15/3/2026 thực sự trở thành “Ngày hội lớn của toàn dân”.Công tác giám sát cũng tập trung vào việc phát hiện sớm các khó khăn, vướng mắc để kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn và giải quyết; đồng thời phòng ngừa các sai sót, vi phạm có thể gây ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng cũng như tính minh bạch của cuộc bầu cử. Qua đó, kế hoạch kỳ vọng sẽ tăng cường hơn nữa trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ tham gia công tác bầu cử.Ủy ban Thường vụ Quốc hội xác định nội dung giám sát sẽ bao quát toàn bộ quá trình bầu cử, từ việc triển khai Chỉ thị của Bộ Chính trị, Luật Bầu cử đến các kế hoạch tổ chức cụ thể. Tùy vào tình hình thực tế, các Đoàn giám sát có thể kết hợp kiểm tra tình hình thực hiện Nghị quyết của Quốc hội tại địa phương. Hình thức giám sát được thực hiện đa dạng, bao gồm việc xem xét, cho ý kiến về công tác bầu cử tại các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội định kỳ vào tháng 01, 02 và 03 năm 2026.Đáng chú ý, bên cạnh các đợt giám sát trực tiếp, Hội đồng bầu cử quốc gia cũng sẽ thực hiện giám sát theo chuyên đề, giám sát từ xa thông qua hệ thống công nghệ thông tin phục vụ bầu cử hoặc tổ chức kiểm tra đột xuất khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, khiếu nại, tố cáo.Kế hoạch nêu rõ việc thành lập các Đoàn giám sát do lãnh đạo Quốc hội và các thành viên Hội đồng bầu cử quốc gia làm Trưởng đoàn, dự kiến chia thành 03 đợt cao điểm. Trong đó, đợt I từ ngày 05/01 đến 13/01/2026: Tập trung vào việc chỉ đạo, triển khai công tác bầu cử; thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử; kết quả hội nghị hiệp thương lần thứ nhất và việc giới thiệu người ứng cử. Đợt II từ ngày 04/02 đến 10/02/2026: Chú trọng kiểm tra việc tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ hai; lập danh sách sơ bộ những người ứng cử; việc lập và niêm yết danh sách cử tri cũng như công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.Đợt III từ ngày 02/3 đến 10/3/2026: Tập trung vào hội nghị hiệp thương lần thứ ba; niêm yết danh sách chính thức người ứng cử; vận động bầu cử; chuẩn bị cơ sở vật chất và các phương án bảo vệ an ninh, an toàn cho ngày bỏ phiếu.Riêng đối với Thủ đô Hà Nội, Đoàn giám sát đợt III sẽ do đồng chí Nguyễn Khắc Định, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Hội đồng bầu cử quốc gia làm Trưởng đoàn để kiểm tra công tác chuẩn bị trước ngày bầu cử.Để đảm bảo thông tin thông suốt, Ủy ban Công tác đại biểu được giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan để tổng hợp kết quả, báo cáo trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng bầu cử quốc gia vào cuối mỗi đợt giám sát. Toàn văn kế hoạch mời xem tại đây