Cần có sự phân định rõ ràng trong quy định về đầu tư xây dựng

Một số ý kiến cho rằng, cần có sự thống nhất tên gọi Luật và phạm vi điều chỉnh cụ thể để tránh chồng chéo với Luật Quy hoạch đô thị và Luật đầu tư. Đại diện của Sở Tư pháp cho rằng tên gọi của Dự thảo là “Luật xây dựng”, tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh quy định tại Điều 1 lại là “hoạt động đầu tư xây dựng” và nội dung của Dự thảo thì lại ko chỉ có hoạt động đầu tư xây dựng mà còn nhiều nội dung khác

Chiều ngày 03.4.2014, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội đã tổ chức Hội nghị để lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo Luật Xây dựng (sửa đổi).

Tại Hội nghị, các đại biểu tập trung thảo luận về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và các vấn đề về quy hoạch xây dựng, giấy phép xây dựng, lựa chọn nhà thầu, điều kiện hoạt động của nhà thầu nước ngoài, về công tác thanh tra, khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm.

Các đại biểu góp ý kiến vào dự thảo Luật Xây dựng

Một số ý kiến cho rằng, cần có sự thống nhất tên gọi Luật và phạm vi điều chỉnh cụ thể để tránh chồng chéo với Luật Quy hoạch đô thị và Luật đầu tư; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước cũng như việc lấy ý kiến của người dân đối với quy hoạch xây dựng được thể hiện rõ trong Dự thảo Luật.

Đại diện của Sở Tư pháp cho rằng tên gọi của Dự thảo là “Luật xây dựng”, tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh quy định tại Điều 1 lại là “hoạt động đầu tư xây dựng” và nội dung của Dự thảo thì lại ko chỉ có hoạt động đầu tư xây dựng mà còn nhiều nội dung khác như: Quy hoạch, khảo sát thiết kế, giám sát, bảo hành, bảo trì công trình… Do vậy, để thống nhất giữa tên gọi, phạm vi điều chỉnh và nội dung của dự thảo đề nghị chỉnh sửa lại Điều 1. Trường hợp nếu Dự thảo luật định hướng theo nội dung chỉ quy định về hoạt động đầu tư xây dựng thì cần đổi tên là Luật Đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, việc quy định các nội dung trong Luật này cần đảm bảo thống nhất với các quy định của Luật đầu tư nói chung và các quy định của pháp luật liên quan. Đặc biệt, Dự thảo dành khá nhiều điều luật quy định về Hợp đồng xây dựng là không cần thiết vì dù là hợp đồng xây dựng hay hợp đồng thương mại…vẫn phải tuân theo sự điều chỉnh chung của các quy định trong Bộ Luật dân sự. Mặt khác, nếu cần quy định cụ thể về hợp đồng trong lĩnh vực này thì có thể xây dựng ban hành một văn bản dưới luật cho phù hợp với đặc thù của lĩnh vực xây dựng.   

Tại Khoản 2, Điều 19 có ý kiến cho rằng cần lồng ghép vấn đề quốc phòng - an ninh vào quy hoạch xây dựng, cụ thể thêm cụm từ “quốc phòng – an ninh” vào sau cụm từ “hiện trạng kinh tế - xã hội trong trình tự lâp, phê duyệt quy hoạch xây dựng”.

Đối với việc lựa chọn nhà thầu xây dựng nước ngoài quy định tại Khoản 2, Điều 110 có ý kiến cho rằng nên bổ sung thêm nội dung quy định việc lựa chọn nhà thầu do chủ đầu tư tự quyết định theo các quy định của Luật Đấu thầu.

Kết thúc hội nghị, thay mặt Đoàn ĐBQH Thành phố, bà Nguyễn Thị Hồng Hà, Phó Trưởng Đoàn đã tiếp thu và đánh giá cao những ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự Hội nghị và khẳng định, những kiến nghị này sẽ được Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội tổng hợp đầy đủ trình lên Ban soạn thảo để nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung vào các điều, khoản của Luật và trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tới.

Đình Hoàng 

Lượt xem: 328

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.