Chủ quyền của quốc gia, của dân tộc là nội dung chính trong bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bản “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc ta, là di sản quý giá, bản anh hùng ca mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam đó là kỷ nguyên độc lập tự do. Những áng văn hào hùng, lời lẽ đanh thép trong “Tuyên ngôn độc lập” vẫn vang vọng, in sâu vào tâm khảm mỗi người dân Việt Nam yêu nước, thương nòi.

Dưới sự lãnh đạo của Ủy ban giải phóng dân tộc, từ ngày 19/8 đến ngày 28/8/1945 quân và dân ta đã vùng lên khởi nghĩa, giành chính quyền trong phạm vi cả nước (Hà Tiên là địa phương tổng khởi nghĩa thành công cuối cùng vào ngày 28/8/1945). Ngày 2/9/1945, tại cuộc mít tinh lớn ở Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, thay mặt Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” tuyên bố với quốc dân đồng bào, với toàn thế giới một sự kiện vô cùng ý nghĩa và trọng đại là: Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời - Một nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Châu Á; có đầy đủ các quyền của một quốc gia, dân tộc. Đó là thành quả bao thế hệ người Việt Nam hy sinh anh dũng chống lại thực dân đế quốc và bọn tay sai phản động để giành lại chủ quyền, độc lập cho quốc gia, cho dân tộc. Đó là thắng lợi vĩ đại của việc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng ở Việt Nam, vào thực tiễn một nước thuộc địa nửa phong kiến, đấu tranh giành độc lập, chủ quyền dân tộc. Bản “Tuyên ngôn độc lập” báo hiệu sự sụp đổ, phá sản của chế độ thực dân, phong kiến mở ra một trang sử mới hào hùng của dân tộc Việt Nam, tiếp bước đi lên, đấu tranh giành lại độc lập tự do, chủ quyền toàn vẹn Tổ quốc. Chủ quyền của nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam được khẳng định và là nội dung chính của bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh!

Giở lại những trang sử vàng về dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đã có ít nhất là 2 lần ông cha ta viết nên những lời tuyên ngôn đanh thép, có tình có lý về chủ quyền quốc gia, về độc lập dân tộc. Bản tuyên ngôn thứ nhất chính là bài thơ thần của Lý Thường Kiệt đọc bên bờ sông Như Nguyệt trước hàng vạn quân dân ta và trước hàng vạn quân xâm lược nhà Nam Tống. Lý Thường Kiệt viết rằng: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm. Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. Được dịch là: “Nước nam là của vua Nam ở. Rành rành định phận tại sách Trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm. Chúng bay ắt bị đánh tơi bời”

Sau khi kháng chiến 10 năm chống giặc Minh giành được thắng lợi, Nguyễn Trãi thay mặt quân và dân ta viết bản “Đại cáo Bình Ngô” hay “Bình Ngô đại cáo” đây được coi là Bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của nước Nam ta. “Bình Ngô đại cáo” đã tổng kết về những năm tháng quân và dân ta gian khổ, hy sinh anh dũng đánh đuổi quân xâm lược nhà Minh diành lại chủ quyền quốc gia, dân tộc. Ngay từ những dòng đầu “Bình Ngô đại cáo” đã viết rõ ràng và cụ thể, tuyên bố cho dân ta biết, cho kẻ xâm lược biết về tầm vóc, bề thế, chủ quyền của nước ta: “...Như nước Đại Việt ta từ trước . Vốn xưng nền văn hiến đã lâu . Núi sông bờ cõi đã chia .  Phong tục Bắc Nam cũng khác . Trải Triệu,  Đinh, Lý, Trần, nối đời dựng nước . Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ mỗi phương...”.

Bản “Tuyên ngôn độc lập” năm 1945; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống anh dũng, kiên cường, trí tuệ và hòa khí tinh anh của ông cha ta xưa, cộng với sự tư duy sáng tạo, thông minh, nhìn xa trông rộng; có sự tham khảo những quan điểm đúng đắn về chủ quyền quốc gia, quyền của con người trong 2 bản tuyên ngôn của nước Pháp (1776) và nước Mỹ (1791) những nước vốn là kẻ đi xâm lược, gây bao đau thương cho dân tộc Việt Nam. Với lối văn chính luận, câu chữ chọn lọc, súc tích, Người viết: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đề sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”, đó là những quyền rất cơ bản của mỗi dân tộc, mỗi con người. Đó là sự nhận thức đúng đắn, rất nhân đạo, nhân văn... Sự khẳng định ấy là để đập lại, tố cáo, lên án những quốc gia nào, kẻ nào đi xâm lược, tước đi những quyền cơ bản của quốc gia khác, của người khác. Từ việc khẳng định các quyền trên,  Người tổng quát về cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường của nhân dân ta nhằm mục đích đòi lại các quyền của quốc gia, dân tộc và nói rõ mục đích, tương lai mà quốc gia, dân tộc phải gây dựng, hướng tới; Người viết tiếp: “ Pháp chạy, Nhật hàng, Vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để xây dựng nên nước Việt Nam độc lập, dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa”. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng đưa vào “Tuyên ngôn độc lập” tuyên bố cho toàn thể dân dân Việt Nam, và cho toàn thể thế giới biết, đồng thời cũng là sự khẳng định, mục tiêu, nguyện ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của toàn dân tộc Việt Nam về “Nước Việt Nam độc lập” sẽ xây dựng và phát triển theo chế độ “Dân chủ cộng hòa”. Đó là một nước có đầy đủ cơ sở pháp lý về chủ quyền của một quốc gia, do nhân dân làm chủ. Bởi theo Hồ Chí Minh thì: Dân là gốc của nước. Đó là chân lý không thể phủ nhận! Dân đã không tiếc máu, xương hy sinh hết thảy để xây dựng và bảo vệ đất nước. Nước không có dân thì không thành nước. Dân cung cấp những người ưu tú nhất cho Đảng, cung cấp cán bộ, viên chức cho các cơ quan nhà nước; bảo vệ Đảng, bảo vệ nhà nuớc... Có thể nói, Người đã lập luận biện chứng về mệnh đề “Nước Việt Nam độc lập” gắn bó khăng khít với nó là “Chế độ dân chủ cộng hòa”. Theo Người thì nước độc lập mà dân không được làm chủ cũng coi như vô nghĩa. Muốn dân làm chủ thực sự, nhà nước ấy nhất thiết phải được xây dựng theo “Chế độ dân chủ cộng hòa”. Căn cứ vào “Tuyên ngôn độc lập” thì nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa phải là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đó là một thể chế đảm bảo các quyền bình đẳng của mọi người – mọi công dân khi tham gia vào công việc chung của nhà nước. Bộ máy nhà nước được xây dựng sẽ bắt nguồn từ việc toàn dân tham gia bầu cử trực tiếp, bình đẳng và phổ thông đầu phiếu. Ngay sau bản “Tuyên ngôn độc lập”, ngày 3/9/1945 tức sau một ngày, tại Bắc Bộ phủ, Hồ Chí Minh đã chủ trì phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ lâm thời. Người nêu một trong những nhiệm vụ cấp bách là phải tổng tuyển cử để nhân dân thực hiện dân chủ; toàn dân tham gia bầu cử, lựa chọn những người đại diện tham gia vào bộ máy Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Ngày 20/9/1945, Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 34 thành lập Ủy ban soạn thảo Hiến pháp và sắc lệnh số 39 về thành lập Ủy ban dự thảo thể lệ tổng tuyển cử bầu Quốc hội nước Việt Nam thống nhất. Ngày 6/1/1946, cuộc bầu cử phổ thông, thể hiện quyền dân chủ của nhân dân ta lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến và lập pháp đã diễn ra thu được kết quả tốt đẹp trên đất nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trúng cử với số phiếu cao nhất 98,4%.

Ngày 2-9-1945 trên Quảng trường Ba Đình lịch sử

Với tinh thần và định hướng của bản “Tuyên ngôn độc lập”, ngày 9/11/1946 Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên của nước ta. Tại Điều 1 Hiến pháp 1946 khẳng định các quyền cơ bản: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền  bính trong nước của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu ghèo, giai cấp, tôn giáo”. Điều 32 Hiến pháp 1946 ghi rõ: “Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phán quyết”.

Trong những năm tháng đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ; mọi công việc đã được thực hiện theo đúng những chủ trương, định hướng lớn mà bản “Tuyên ngôn độc lập” đề ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đồng bào, một lần nữa khẳng định chủ quyền quốc gia, dân tộc, thể hiện ý trí sắt đá của cả dân tộc quyết tâm bảo vệ thành quả ấy: “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng tính mạng và của cải để giữ vững quyền tư do độc lập ấy”. Thấm nhuần Bản “Tuyên ngôn độc lập”, trong suốt quá trình kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ; và ngày nay trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đường lối xây dựng hoàn thiện chế độ dân chủ - chế độ làm chủ của nhân dân, xây dựng một nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân đã giúp cho Đảng ta, quân và dân ta giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong đó có những kỳ tích vô cùng to lớn, có ý nghĩa trọng đại không những chỉ với Đảng ta, nhân dân ta mà cón là biểu tượng, tấm gương đối với các quốc gia, các dân tộc đang bị áp bức trên thế giới về sự anh dũng kiên cường, quyết tâm giành độc lập tự do cho tổ quốc, đó là: Chiến thắng Điện Biên phủ năm 1954, thắng lợi của cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975 đưa non sông trở về một mối, cả nước độc lập, thống nhất...

Từ năm 1946 đến nay, nước ta đã 5 lần xây dựng, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Có thể nói tư tưởng về xây dựng một nhà nước pháp quyền, dân chủ được nêu trong bản “Tuyên ngôn độc lập” chính là nội dung cơ bản của Hiến Pháp. Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ được coi là nguyên tắc chủ yếu, cơ bản nhất thể hiện trong Hiến pháp. Ngày nay, trong bối cảnh quốc tế, khu vực đang có những diễn biến phức tạp. Bản “Tuyên ngôn độc lập” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc ta, là di sản quý giá, bản anh hùng ca mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam đó là kỷ nguyên độc lập tự do. Những áng văn hào hùng, lời lẽ đanh thép trong “Tuyên ngôn độc lập” vẫn vang vọng, in sâu vào tâm khảm mỗi người dân Việt Nam yêu nước, thương nòi. Bản “Tuyên ngôn độc lập”  mãi là căn cứ pháp lý của Hiến pháp đầu tiên, quan trọng nhất; là cơ sở, nền móng cho Đảng ta, nhân dân ta nhận thức đầy đủ về chủ quyền quốc gia, dân tộc, con người; từ đó quyết tâm xây dựng, bảo vệ Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa - Nhà nước của dân, do dân và vì dân!

 Nguyễn Xuân Diên

Phó Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH&HĐND TP Hà Nội

Lượt xem: 866

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.