Đại biểu HĐND phải đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân

Ngày 6-12-2013, tại kỳ họp thứ tám, HĐND thành phố Hà Nội khóa XIV, sau khi nghe UBND thành phố đọc Tờ trình, 100% số đại biểu có mặt tại phiên họp (89/95 đại biểu) đã bấm nút biểu quyết, nhất trí thông qua Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm để thành lập 2 quận và 23 phường mới. Trước đó, sáng 5-12-2013, HĐND huyện Từ Liêm cũng đã họp phiên bất thường nhằm thông qua Đề án điều chỉnh địa giới hành chính. 32/33 đại biểu có mặt tại cuộc họp cũng đã đồng ý với đề án này

Như vậy có thể thấy, việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm đã gần như đạt được sự đồng thuận tuyệt đối của các đại biểu dân cử cấp huyện và thành phố.

Nói chính xác, chỉ có 1 đại biểu trong 122 đại biểu tham dự hai cuộc họp này không tán thành chủ trương trên với lý do không đồng ý việc tách huyện Từ Liêm thành 2 quận mới.

Chính kiến của mỗi cá nhân trước từng vấn đề có sự khác nhau là chuyện hết sức bình thường. Mỗi người có quyền bảo lưu ý kiến của mình để tiếp tục kiến nghị, đề xuất cấp có thẩm quyền xem xét, tuy nhiên phải tuân thủ và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, những vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể thì thiểu số phục tùng đa số. Vậy nhưng mấy ngày qua, việc ông Nguyễn Hữu Kiên - đại biểu HĐND huyện Từ Liêm - người tự xác nhận chính là đại biểu duy nhất không đồng ý với Đề án điều chỉnh địa giới huyện Từ Liêm, đã được một số tờ báo (nhất là báo mạng) "lăng-xê" như một hiện tượng trong xã hội. Một số người khác lập tức "đồng thanh tương ứng", tán dương rằng, đây mới là con người trăn trở, có suy nghĩ mong muốn tốt đẹp cho dân, cho nước; rồi đây mới là tiếng nói của cơ sở, dám nhìn thẳng sự thật, song hành với nguyện vọng của người dân... Nếu quả thật là như vậy, không lẽ trừ ông Nguyễn Hữu Kiên, hơn một trăm đại biểu HĐND của thành phố và huyện Từ Liêm, người dân đã sai lầm khi đặt niềm tin vào lá phiếu bầu người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của mình?

Rõ ràng đây không còn là chuyện bình thường nên cần nhìn nhận, xem xét một cách thấu đáo.

Hà Nội hiện có 29 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã. Vào thời điểm thực hiện điều chỉnh địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội theo Nghị quyết của Quốc hội khóa XII (1-8-2008), dân số của Hà Nội khoảng trên 7 triệu người. Với mức tăng dân số khoảng trên 10 vạn người mỗi năm thì vào thời điểm hiện tại tính trung bình mỗi quận, huyện của Thủ đô có khoảng 250.000 dân cư. Trong khi đó, dân số của huyện Từ Liêm là trên 550.000 người, ấy là chưa kể trong 1-2 năm tới, nhiều khu đô thị mới trên địa bàn được đưa vào sử dụng thì dân số trên địa bàn toàn huyện ước tính sẽ lên tới trên 600.000 người, mật độ dân cư sẽ cao hơn mức 10.000 người/km2. Cơ cấu thương mại, công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn chiếm 98,37%, nông nghiệp còn dưới 1%; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp cũng đã chiếm 90,8%. Trong năm 2012, thu nhập bình quân đầu người đạt 34,5 triệu đồng.

Thời gian qua, hệ thống công trình hạ tầng đô thị của huyện cũng đã được tập trung đầu tư, bảo đảm tính đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh. Hiện trên địa bàn Từ Liêm đã có các công trình quan trọng của quốc gia như Trung tâm Hội nghị quốc gia, Khu liên hợp thể thao quốc gia; trụ sở các cơ quan trung ương như Bộ Công an, Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên - Môi trường… và nhiều công trình hiện đại như tòa nhà Keangnam, hàng loạt khu đô thị lớn như Khu đô thị Nam Thăng Long, Khu đô thị Ngoại giao đoàn, Khu đô thị Tây Hồ Tây... 

Những yếu tố nêu trên khiến cho "chiếc áo" quản lý hành chính cấp huyện trở nên chật chội, thậm chí là kìm hãm sự phát triển của một khu vực đang có tốc độ đô thị hóa nhanh. Lấy ví dụ, Từ Liêm hiện có những xã như Cổ Nhuế, dân số tới trên 77.000 người mà chỉ có hơn 20 cán bộ quản lý; hoặc theo thống kê, năm 2012 huyện phải giải quyết gần 51.000 thủ tục hành chính của các tổ chức, công dân - con số này gấp nhiều lần các quận, huyện khác của thành phố Hà Nội, thậm chí nhiều hơn cả số thủ tục hành chính phải giải quyết của một số tỉnh miền Bắc…

Để bảo đảm cho sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như nhằm thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước trên địa bàn, ngay từ năm 2007, huyện Từ Liêm và thành phố Hà Nội đã xây dựng đề án, đề nghị điều chỉnh địa giới hành chính. Tuy nhiên, vì những lý do khách quan cũng như việc chưa hội tụ đủ những yếu tố cần thiết nên từ đó tới nay đề án tiếp tục được cập nhật, chỉnh lý, bổ sung ít nhất là 3 lần để phù hợp với điều kiện hoàn cảnh mới của Thủ đô và định hướng phát triển trong tương lai của Hà Nội. Đặc biệt, theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 và Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1259/QĐ-TTg ngày 26-7-2011, huyện Từ Liêm nằm trong khu vực quy hoạch đô thị trung tâm Thủ đô Hà Nội. Huyện đã có quy hoạch chung, quy hoạch phân khu chức năng được phê duyệt. Trong quy hoạch, đã bố trí quỹ đất để xây dựng trụ sở các cơ quan trong hệ thống chính trị, các thiết chế văn hóa - xã hội, các công trình dân sinh phục vụ cho việc hình thành 2 quận và các phường mới. Và trên cơ sở đề nghị của thành phố Hà Nội, ngày 28-11-2013, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản số 428/TB-VPCP Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ nhất trí chủ trương, giao thành phố Hà Nội thực hiện trình tự, thủ tục, lập hồ sơ đề nghị điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm và các xã, thị trấn để thành lập 2 quận và 23 phường. Cần lưu ý rằng, đây là phương án được xác định sau khi UBND thành phố và huyện Từ Liêm phối hợp với Bộ Nội vụ tiến hành khảo sát, tính toán và cân nhắc.

Như vậy có thể thấy, việc điều chỉnh địa giới huyện Từ Liêm là tất yếu khách quan, xuất phát từ nguyện vọng của người dân, của Đảng bộ, chính quyền huyện Từ Liêm; được thống nhất về chủ trương và đã có quá trình chuẩn bị từ nhiều năm. Thế nhưng, trong phát biểu trước HĐND huyện Từ Liêm, ông Nguyễn Hữu Kiên lại cho rằng, đề án tách địa giới thành 2 quận chỉ mang tầm nhìn… Từ Liêm. Nhận thức như thế thì thật lạ!

Cũng phải nói thêm rằng trước khi HĐND huyện Từ Liêm họp phiên bất thường, Đề án điều chỉnh địa giới hành chính đã được đưa ra lấy ý kiến người dân trên địa bàn. 87.655 hộ dân (chiếm 99,87%) đã được chuyển giấy mời dự lấy ý kiến, chỉ có 111 hộ dân không nhận được giấy mời do không có mặt tại địa bàn (0,13%). Kết quả đã có 72.406 hộ dân dự họp và tham gia đóng góp ý kiến (chiếm 82,5%). Qua đó có 72.330 hộ dân nhất trí đề án điều chỉnh địa giới thành 2 quận (chiếm 99,9%) và có 65.473 số hộ nhất trí tên 2 quận mới là Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm (chiếm 90,5%)…

Đáng chú ý, theo thống kê chỉ có 0,1% số hộ dân có quan điểm như ông Nguyễn Hữu Kiên trong việc đề nghị thành lập 1 quận mới. Vậy một số người comment tán dương vào bài viết về ông Nguyễn Hữu Kiên trên báo mạng là vì lẽ gì, họ có thật sự song hành với dân, tâm huyết với dân?

Tại kỳ họp thứ tám, HĐND thành phố Hà Nội khóa XIV, trước khi biểu quyết thông qua Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm đã có 24 ý kiến của các đại biểu HĐND thành phố thảo luận tại 6 tổ. Không phải không có những ý kiến băn khoăn về tên gọi của 2 quận mới được tách ra từ huyện Từ Liêm hoặc những vấn đề cần làm rõ để hoàn thiện Tờ trình và dự thảo Nghị quyết, những công việc cần chú trọng trong tổ chức thực hiện… Song từ thực tế khách quan và xuất phát từ tinh thần xây dựng, đa số các đại biểu nhất trí đặt lên trên hết phải là lợi ích của cộng đồng, nguyện vọng, nhu cầu chính đáng của người dân.

Cũng cần nói thêm một số vấn đề đặt ra trong phát biểu trước HĐND huyện Từ Liêm của ông Nguyễn Hữu Kiên, cũng đã được lãnh đạo thành phố chỉ đạo triển khai hoặc theo quy trình sẽ được thực hiện trong các bước tiếp theo. Lấy ví dụ như vào thời điểm này, để chuẩn bị cho việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm, Thành ủy, UBND thành phố đã chỉ đạo thủ trưởng các đơn vị thực hiện nghiêm túc công tác quản lý cán bộ, quản lý tài sản, tài chính, quản lý đất đai và trật tự xây dựng trên địa bàn; không để xảy ra việc cấp đất trái thẩm quyền, mua bán, chuyển nhượng đất đai trái quy định, xây dựng trái phép; không để xảy ra thất thoát, tiêu cực, lãng phí… Sẽ không có chuyện "tranh thủ" để tiếp nhận, điều động, bổ nhiệm cán bộ cũng như "tận dụng cơ hội" để quyết định đầu tư xây dựng trụ sở cơ quan, mua sắm trang thiết bị không đúng quy định của Nhà nước…

Nêu ra những vấn đề trên để nói rằng, hơn ai hết những người đại diện cho nhân dân cần hiểu rõ ý chí, nguyện vọng của nhân dân để có lời nói, hành động phù hợp và hiệu quả. Có như vậy, cử tri mới trọn vẹn niềm tin vào cơ quan dân cử và các đại biểu dân cử bởi họ phản ánh trung thực tiếng nói của người dân và lấy lợi ích của nhân dân làm cơ sở để đưa ra các quyết sách.

Hoàng Thu Vân/hanoimoi.com.vn

Lượt xem: 508

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.