Đoàn ĐBQH TP Hà Nội: Lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự

Dự thảo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự được ban hành gồm 10 chương với 72 điều thay thế pháp lệnh Cơ quan điều tra hình sự 2004. Tại hội nghị, các đại biểu góp ý tập trung vào các vấn đề như: Trách nhiệm của công an xã, phường, thị trấn, Đồn công an; về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyền hạn điều tra của các cơ quan của lực lượng cảnh sát trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; tiêu chuẩn bổ nhiệm Điều tra viên; nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp huyện…

Sáng ngày 24/9/2015, Đoàn đại biểu Quốc hội Hà Nội đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự. Đồng chí Chu Sơn Hà, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố chủ trì hội nghị.

Dự thảo Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự được ban hành gồm 10 chương với 72 điều thay thế pháp lệnh Cơ quan điều tra hình sự 2004. Tại hội nghị, các đại biểu góp ý tập trung vào các vấn đề như: Trách nhiệm của công an xã, phường, thị trấn, Đồn công an; về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan điều tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyền hạn điều tra của các cơ quan của lực lượng cảnh sát trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; tiêu chuẩn bổ nhiệm Điều tra viên; nhiệm vụ quyền hạn của cơ quan cảnh sát điều tra công an cấp huyện…

Phó Trưởng đoàn Chu Sơn Hà tiếp thu các ý kiến góp ý

Về qui định quyền hạn của Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo Đại tá, PGS, Tiến sĩ Lê Ngọc An, Trưởng Khoa Nghiệp vụ an ninh điều tra - Học viện ANND cho rằng Dự thảo qui định Cơ quan Kiểm ngư khi thực hiện nhiệm vụ trong lĩnh vực quản lý của mình phát hiện tội phạm có quyền lấy lời khai (khoản 1 Điều 36), nhưng không nêu rõ là lấy lời khai của đối tượng nào. Thêm vào đó, dự thảo không qui định Cơ quan Kiểm ngư có quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn hay không. Nếu Cơ quan Kiểm ngư không có quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì không thể thực hiện quyền hạn điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong trường hợp phạm tội quả tang (mục a, khoản 1 Điều 36). Nếu Cơ quan Kiểm ngư được phép áp dụng các biện pháp ngăn chặn thì sẽ tiến hành giam giữ đối tượng ở đâu.

Qui định về quyền hạn điều tra của các cơ quan khác của lực lượng An ninh trong Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (khoản 1 Điều 37): Cục trưởng, Trưởng phòng nghiệp vụ an ninh trong khi làm nhiệm vụ của mình mà phát hiện sự việc có dấu hiệu tội phạm thì tiến hành lấy lời khai, khám nghiệm hiện trường, khám xét... là không hợp lý vì trong thực tế Cục trưởng, Trưởng phòng nghiệp vụ an ninh không trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra, mà giao cho trinh sát viên tiến hành. Về quy định đối với Điều tra viên, cán bộ điều tra, dự thảo chưa qui định rõ về tiêu chuẩn có thời gian làm công tác thực tiễn, có thời gian làm công tác pháp luật của Điều tra viên do vậy rất khó xác định.

Về mô hình tổ chức cơ quan điều tra, theo đại diện Hội Luật gia cho rằng mô hình tổ chức Cơ quan điều tra quy định trong dự thảo Luật về cơ bản được giữ như mô hình tổ chức Cơ quan điều tra hiện hành, có bổ sung một số cơ quan điều tra ở các cấp và cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Theo quy định tại dự thảo Luật về các cơ quan điều tra thuộc Bộ Công an thì ở cấp Bộ đã bổ sung Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu; ở cấp tỉnh đã bổ sung Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu; ở cấp huyện đã bổ sung Đội điều tra tổng hợp và không rõ có còn duy trì bộ máy giúp việc Cơ quan Cảnh sát điều tra hay không.

Có thể mô hình này được xây dựng trong dự thảo Luật để đáp ứng với yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trên các lĩnh vực trong tình hình hiện nay. Tuy nhiên, việc hình thành thêm các tổ chức mới sẽ kéo theo hàng loạt vấn đề có liên quan như: cơ sở vật chất, nhân sự, trang thiết bị… điều này có vẻ không hợp lý với chủ trương của Đảng về sắp xếp tinh gọn đầu mối. Mặt khác, hiện nay tội buôn lậu thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, thuộc thẩm quyền điều tra của Cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ - Bộ Công an và Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ - Công an cấp tỉnh. Việc tách ra để thành lập đơn vị mới liệu hiệu quả có tốt hơn? Do vậy cần có lý do thuyết phục hơn, phải trên cơ sở hiệu quả công việc là chính.

Bên cạnh đó về mặt tổ chức có nội dung được quy định chưa rõ ràng. Chẳng hạn Điều 42 dự thảo Luật quy định về mối quan hệ giữa đơn vị điều tra và đơn vị trinh sát trong điều tra hình sự. Tuy nhiên, Luật không quy định rõ bộ phận trinh sát có thuộc cơ quan điều tra hay không; nếu có thì phải làm rõ địa vị pháp lý và vai trò của bộ phận này như thế nào trong hoạt động điều tra hình sự.

Về cán bộ điều tra, đại diện Sở Tư pháp cho rằng dự thảo Luật quy định chức danh Cán bộ điều tra là chưa hợp lý vì cán bộ điều tra là để chỉ tất cả những cán bộ làm công tác điều tra hình sự kể cả điều tra viên. Do vậy, đề nghị đổi thành ”trợ lý điều tra viên”, theo đó  các chức danh Kiểm tra viên; thẩm tra viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân thành trợ lý kiểm sát viên; trợ lý thẩm phán cho phù hợp.

Các ý kiến đóng góp tại Hội nghị đã được Đoàn đại biểu Quốc hội Thành phố tiếp thu, tổng hợp và chuyển đến Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo quy định./. 

NGỌC ÁNH

Lượt xem: 459

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.