Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổ chức hội nghị lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Điều ước quốc tế

Tại hội nghị, đa số ý kiến nhất trí sự cần thiết ban hành Luật Điều ước Quốc tế. Dự Luật Điều ước Quốc tế đã thể hiện được đường lối của Đảng, phù hợp với Hiến pháp năm 2013, Dự luật đã cụ thể hóa thể hiện được nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi ; tuân thủ Hiến chương Liên hiệp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa là thành viên …

Chiều ngày 23/2/2016, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổ chức hội nghị lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Điều ước quốc tế. Tham dự hội nghị có một số ĐBQH trong Đoàn, đại diện lãnh đạo các cơ quan, đơn vị, tổ chức có liên quan trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Tại hội nghị, đa số ý kiến nhất trí sự cần thiết ban hành Luật Điều ước Quốc tế. Dự Luật Điều ước Quốc tế đã thể hiện được đường lối của Đảng, phù hợp với Hiến pháp năm 2013, Dự luật đã cụ thể hóa thể hiện được nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi ; tuân thủ Hiến chương Liên hiệp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa là thành viên … Với phương trâm của Đảng là Việt Nam làm bạn với tất cả các nước, việc nước ta mở rộng quan hệ quốc tế song phương và đa phương với tất cả các quốc gia trên thế giới là phù hợp với quy luật và nhu cầu phát triển và hội nhập trong quan hệ chính trị và phát triển kinh tế. Dự luật cũng đã khắc phục được những thiếu sót, bật cập cần sửa đổi cho phù hợp với tình hình quốc tế và điều kiện hiện nay của đất nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển, quy định những chế định mới như chương V: về thủ tục đối ngoại, chương VI: về trình tự, thủ tục rút gọn…

Theo ý kiến của bà Tô Thị Thanh Hương-Hội Luật gia Thành phố góp ý về nguyên tắc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế quy định tại Điều 3, quy định như khoản 1 “1. Không trái với Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” có thể hiểu nếu các điều khoản trong điều ước quốc tế có nội dung trái với Hiến pháp là Nhà nước Việt Nam không tham gia; Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, do thể chế chính trị khác nhau nên việc có điều khoản của điều ước quốc tế trái với Hiến pháp năm 2013 là có thể xảy ra, vì vậy đề nghị ban soạn thảo nghiên cứu, cần có phương pháp xử lý vấn đề này để Việt Nam không bị mất cơ hội  làm bạn với tất cả các nước  mà vẫn  giữ được độc lập chủ quyền quốc gia. Ngoài ra, tại Mục 2 Chương II, bà Hương đề nghị bổ sung quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức có liên quan khi được các cơ quan đề xuất ký điều ước quốc tế lấy ý kiến (như quy định tại Điều 19 về trách nhiệm của Bộ Ngoại giao trong việc kiểm tra điều ước quốc tế, Điều 21 về trách nhiệm của Bộ Tư pháp trong việc thẩm định điều ước quốc tế) với lý do cần luật hóa quy định này, để khẳng định đây là quy định bắt buộc là phải lấy ý kiến của các đối tượng bị tác động trực tiếp khi điều ước quốc tế được ký kết (đặc biệt đối tượng bị tác động là doanh nghiệp) và trách nhiệm của các đối tượng này khi được lấy ý kiến…

Theo ý kiến của ông Nguyễn Văn Chiến-Chủ nhiệm Đoàn Luật sư Thành phố, cho rằng dự thảo Luật chưa phản ánh hết được nội dung và tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Với vị trí và vai trò của điều ước quốc tế, hoạt động đàm phán, ký, gia nhập điều ước quốc tế cần bảo đảm tính dân chủ, công khai, minh bạch, vì vậy việc xây dựng điều ước quốc tế cần tiến hành cơ bản quy trình như xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, trong đó, cần quy định cụ thể đối tượng, nội dung, thời hạn, phạm vi, trình tự, thủ tục, hình thức tham gia góp ý; Ngoài ra, dự thảo Luật chưa đề cập đến vấn đề trưng cầu ý dân trong khi Quốc hội đã thông qua Luật Trưng cầu ý dân, đặc biệt là những điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh hay hòa bình.

Liên quan đến một số điều ước quốc tế đặc thù, đặc biệt là các điều ước quốc tế về vay vốn ODA, ông Chiến cho rằng quy định tại khoản 1 Điều 2 của dự thảo là thỏa thuận bằng văn bản được ký kết nhân danh Nhà nước hoặc nhân danh Chính phủ với bên ký kết nước ngoài, làm phát sinh, thay đổi quyền, nghĩa vụ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo pháp luật quốc tế. Hiện nay, các điều ước quốc tế về ODA và vay ưu đãi của các nhà tài trợ chiếm tỷ trọng không nhỏ trong các điều ước quốc tế của Việt Nam; Đây là một nhóm điều ước quốc tế đặc thù, thường theo mẫu chung đối với mỗi nhà tài trợ nhất định, phục vụ các dự án phát triển kinh tế - xã hội cụ thể nhưng quy trình ký kết điều ước quốc tế theo quy định chung tại luật về điều ước quốc tế hiện hành chưa đồng bộ với quy trình phê duyệt các dự án ODA và các dự án vay khác. Vì vậy, để tạo điều kiện cho việc ký kết điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ đối với khoản vay cụ thể, dự thảo Luật cần đưa ra một số quy định theo hướng đơn giản hóa về thủ tục cho việc ký kết các điều ước quốc tế này, góp phần đồng bộ hóa với quy trình phê duyệt khoản vay của cơ quan có thẩm quyền.

Đại diện Sở Ngoại vụ Thành phố, ông Vũ Đăng Định-Phó Giám đốc khẳng định việc sửa đổi một cách toàn diện Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 là nhu cầu cấp thiết, nhằm triển khai thực hiện Hiến pháp năm 2013, đảm bảo tính hợp hiến, tính chặt chẽ nhưng cũng đảm bảo tính linh hoạt, phục vụ chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Ông Định góp ý vào một số nội dung cụ thể như sau: Quy định về chuẩn bị đàm phán điều ước quốc tế còn mang tính chung chung, đề nghị bổ sung thêm các quy định cụ thể về việc xây dựng phương án đàm phán, cơ chế phân công nhiệm vụ và phối hợp giữa các cơ quan liên quan tham gia vào quá trình đàm phán. Về Danh nghĩa ký kết điều ước quốc tế: đề nghị làm rõ chính quyền địa phương (UBND cấp tỉnh) ký kết với tổ chức nước ngoài, chính quyền nước ngoài hay ký kết về việc thành lập, tham gia tổ chức quốc tế và khu vực có được xem là điều ước quốc tế hay không vì sẽ làm phát sinh trách nhiệm và nghĩa vụ từ các ký kết này…

Kết thúc hội nghị, đồng chí Nguyễn Thị Hồng Hà-Phó Trưởng Đoàn ĐBQH Hà Nội thay mặt Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tiếp thu toàn bộ ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự Hội nghị; sẽ tổng hợp để trình Ủy ban thường vụ Quốc hội./.

Thanh Hà 

Lượt xem: 208

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.