Đóng góp ý kiến vào dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính: Cần khẳng định vai trò cơ quan tiến hành tố tụng, kháng nghị của Viện KSND

Viện KSND Thành phố vừa có văn bản gửi tới Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đóng góp ý kiến vào dự thảo Bộ luật Tố tụng dân sự (TTDS) và Luật Tố tụng hành chính (TTHC). Đây là hai dự thảo luật có tác động quan trọng tới hoạt động của ngành Kiểm sát nói chung, những ý kiến đóng góp của Viện Kiểm sát nhân dân Hà Nội đã đề xuất nhiều nội dung cần để khẳng định vai trò cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan kháng nghị của Viện KSND.

Về vị trí của Viện KSND trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, cả hai dự thảo không tiếp tục quy định Viện KSND là cơ quan tiến hành tố tụng mà quy định một mục riêng, xác lập vị trí pháp lý độc lập cho VKSND với tư cách là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTDS, TTHC. Lý do cơ quan thẩm tra - Ủy ban Tư pháp đưa ra sửa đổi này là vì trong TTDS, TTHC, Viện KSND chỉ thực hiện chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp, không thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, không còn quyền khởi tố vụ án.

Viện KSND thành phố Hà Nội đề nghị tiếp tục quy định Viện KSND là cơ quan tiến hành tố tụng trong TTDS, TTHC vì pháp luật về TTDS, TTHC từ trước đến nay luôn khẳng định Viện KSND là cơ quan tiến hành tố tụng, không phụ thuộc vào việc có hay không có thẩm quyền khởi tố vụ án. Bộ luật TTDS và Luật TTHC hiện hành mặc dù không còn quy định thẩm quyền khởi tố của Viện KSND nhưng vẫn tiếp tục giao thực hiện các thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng như: Nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ, yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ hoặc tự mình thu thập chứng cứ; Tham gia các phiên tòa, phiên họp, thẩm vấn đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa; nếu Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa; kiến nghị, kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án; yêu cầu, kiến nghị xử lý người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật... Tổng kết thực tiễn cho thấy quy định Viện KSND là cơ quan tiến hành tố tụng đang phát huy tác dụng tốt, góp phần cùng Tòa án giải quyết vụ án đúng pháp luật, kịp thời. Chính vì vậy, trong hồ sơ dự án Bộ luật TTDS, Luật TTHC trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 9, cơ quan chủ trì soạn thảo là TAND Tối cao đề nghị quy định Viện KSND là cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014 tiếp tục khẳng định chức năng, nhiệm vụ của Viện KSND trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính là cơ quan tiến hành tố tụng như quy định hiện hành. Do đó, không có căn cứ để thay đổi vị trí pháp lý của Viện KSND. Dự thảo Bộ luật TTDS, Luật TTHC (sửa đổi) tiếp tục phân chia chủ thể trong quan hệ tố tụng dân sự, tố tụng hành chính thành 02 nhóm: (1) Cơ quan tiến hành tố tụng (nhân danh quyền lực Nhà nước để thực hiện hoạt động tố tụng) và (2) Người tham gia tố tụng (tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích của mình), do đó, phải xác định Viện KSND là cơ quan tiến hành tố tụng mới bảo đảm phù hợp.

Về các trường hợp Viện KSND tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc, dự thảo Bộ luật TTDS, Luật TTHC tiếp tục giữ nguyên quy định hiện hành về các trường hợp Viện KSND tham gia phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính, điều này nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn giải quyết vụ việc dân sự, vụ án hành chính thời gian qua. Riêng đối với phiên tòa sơ thẩm giải quyết vụ việc dân sự, hiện nay, dự thảo Bộ luật TTDS đã quy định nguyên tắc “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” (Khoản 2 Điều 4), đồng thời, bổ sung quy định về giải quyết các vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng tại các điều 43, 44 và 45 để xin ý kiến Quốc hội. Ngành Kiểm sát đề nghị quy định Viện KSND phải tham gia phiên tòa sơ thẩm khi Tòa án xét xử những vụ việc này, nhằm góp phần cùng với Tòa án bảo vệ công bằng, công lý cho người dân.

Về nội dung phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm, Điều 263 dự thảo Bộ luật TTDS, Điều 92 dự thảo Luật TTHC đề nghị quy định tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ, việc (bao gồm cả việc chấp hành pháp luật nội dung và pháp luật tố tụng). Căn cứ của việc đề xuất này là Khoản 3 Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật tổ chức Viện KSND năm 2014 quy định: “Viện KSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chú nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân... Đề thực hiện nhiệm vụ này, Viện KSND có trách nhiệm phát hiện, nêu rõ mọi vi phạm pháp luật của các chủ thể trong việc giải quyết vụ án; đồng thời, phải thể hiện rõ quan điểm về việc xử lý các vi phạm đó. Điều 27 Luật tổ chức Viện KSND năm 2014 quy định Viện KSND có nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án, vụ việc”, “tham gia phiên tòa, phiên họp, phát biểu quan điểm của Viện KSND về việc giải quyết vụ án, vụ việc theo quy định của pháp luật". Như vậy, pháp luật không giới hạn phạm vi kiểm sát, phạm vi phát biểu quan điểm của Viện KSND. Viện kiểm sát có trách nhiệm phát biểu cả về nội dung vụ án và việc chấp hành pháp luật tố tụng. Việc xây dựng các dự án luật tiếp theo phải bảo đảm thống nhất với các luật vừa được Quốc hội thông qua… Trên cơ sở đó, ngành KSND đề nghị chỉnh lý quy định về nội dung phát biểu của Kiếm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm như sau: “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự”.

Về quyền thu thập chứng cứ của Viện KSND, Điều 98 dự thảo Bộ luật TTDS, Điều 86 dự thảo Luật TTHC không tiếp tục quy định thẩm quyền thu thập chứng cứ của Viện KSND; đồng thời, bỏ quy định về trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân cho Viện KSND (Điều 7 dự thảo Bộ luật TTDS, Điều 10 dự thảo Luật TTHC). Quan điểm của ngành Kiểm sát đề nghị giữ nguyên quy định về thẩm quyền thu thập chứng cứ của Viện KSND và trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân cho Viện KSND theo các điều 7, 85 và 94 Bộ luật TTDS; các điều 9, 78 và 87 Luật TTHC hiện hành, vì các lý do: Luật tổ chức Viện KSND năm 2014 đã quy định các điều khoản có nhiệm vụ, quyền hạn thu thập tài liệu, chứng cứ, có quyền yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm. Thực tiễn cho thấy quy định nêu trên chính là điều kiện bảo đảm cho Viện kiểm sát thực hiện tốt quyền kháng nghị…

Toàn văn góp ý của Viện KSND thành phố Hà Nội

Duy Linh

Lượt xem: 509

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.