Giải pháp nâng cao chất lượng công tác tham mưu, phục vụ tiếp dân và đôn đốc giải quyết đơn thư của Đoàn ĐBQH, HĐND thành phố Hà Nội

Tiếp công dân và đôn đốc giải quyết đơn thư là một trong những nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của đại biểu dân cử nói chung, đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp thành phố Hà Nội nói riêng. Thông qua hoạt động tiếp công dân và đôn đốc giải quyết đơn thư, đại biểu Quốc hội, HĐND thực hiện chức năng của mình là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời thực hiện quyền giám sát đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực thi pháp luật.

Tiếp công dân và đôn đốc giải quyết đơn thư là một trong những nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của đại biểu dân cử nói chung, đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp thành phố Hà Nội nói riêng. Thông qua hoạt động tiếp công dân và đôn đốc giải quyết đơn thư, đại biểu Quốc hội, HĐND thực hiện chức năng của mình là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đồng thời thực hiện quyền giám sát đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực thi pháp luật.

Để thực hiện chức năng này một cách hiệu quả đòi hỏi công tác tham mưu, phục vụ tiếp dân và đôn đốc giải quyết đơn thư của Đoàn ĐBQH, HĐND phải đáp ứng được yêu cầu, đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật và chất lượng ngày càng được nâng cao.

Triển khai việc tiếp công dân theo quy định của pháp luật, Nhiều năm nay đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội duy trì thực hiện tiếp công dân định kỳ hàng tuần theo sự phân công của Trưởng Đoàn, được tổ chức vào sáng thứ sáu tại 02 địa điểm: số 34 phố Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm và số 20 phố Hoàng Diệu, quận Hà Đông. Việc tiếp công dân của Đại biểu Quốc hội được duy trì đều đặn trong suốt khóa Quốc hội khóa XII và khóa XIII. Tại các buổi tiếp dân đại biểu Quốc hội trực tiếp lắng nghe công dân trình bày kiến nghị, khiếu nại, tố cáo; tuyên truyền, hướng dẫn công dân tuân thủ quy định của pháp luật và nghiên cứu chuyển đơn tới các cơ quan có thẩm quyền xem xét giải quyết theo quy định. Tính từ ngày 01/8/2013 đến ngày 31/8/2014, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội đã tổ chức 78 buổi tiếp công dân, tiếp 1041 lượt công dân đến kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, trong đó có khoảng 46 lượt đoàn đông người, nhận 1.396 đơn.  

Ngoài việc tiếp công dân định kỳ hàng tuần, nhiều đại biểu Quốc hội trong Đoàn còn chủ động tiếp công dân tại nơi công tác, nơi cư trú, tiếp nhận đơn thư kiến nghị của công dân tại buổi tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp Quốc hội.

Đối với HĐND Thành phố, trong những năm qua, HĐND thành phố Hà Nội đã triển khai công tác tiếp công dân của đại biểu HĐND Thành phố theo đúng quy định của pháp luật. Thường trực HĐND Thành phố thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và có các giải pháp, biện pháp cụ thể để đổi mới hình thức, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tiếp công dân của đại biểu HĐND Thành phố. Trước tháng 12/2012, HĐND Thành phố Hà Nội tổ chức cho đại biểu tiếp dân theo lịch cố định vào sáng thứ năm hàng tuần tại 2 địa điểm số 34 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm và 20 Hoàng Diệu – Hà Đông, mỗi buổi có 02 đại biểu tiếp dân.

Theo Đề án số 04/ĐA-TU ngày 19/10/2012 của Ban Thường vụ Thành ủy về “Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp thành phố Hà Nội”, Thường trực HĐND Thành phố Hà Nội đã xây dựng Đề án 531/ĐA – HĐND ngày 26/12/2012 về “Đổi mới công tác tiếp công dân của đại biểu HĐND thành phố Hà Nội khóa XIV, nhiệm kỳ 2011-2016”, theo đó, từ tháng 01/2013 tổ chức để đại biểu HĐND Thành phố tiếp công dân định kỳ 1 lần/tháng theo Tổ đại biểu tại Trụ sở HĐND và UBND của quận, huyện, thị xã nơi đại biểu trúng cử.

Đối với Thường trực HĐND Thành phố, ngoài việc thực hiện trách nhiệm chung của đại biểu HĐND tiếp dân theo Tổ đại biểu, từ tháng 12/2013, định kỳ hàng tháng tại trụ sở tiếp công dân của Thành phố (số 34 Lý Thái Tổ - Hoàn Kiếm – Hà Nội) Thường trực HĐND Thành phố tổ chức tiếp công dân theo vụ việc cụ thể, có sự tham dự của lãnh đạo các ngành chức năng nhằm đôn đốc, giải quyết dứt điểm, triệt để đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân đối với những vụ tồn đọng.

Các buổi tiếp công dân định kỳ của đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND Thành phố được Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND Thành phố, Ban Tiếp công dân Thành phố, Tổ tiếp công dân các địa phương tham mưu, tổ chức phục vụ chu đáo. Quá trình tiếp công dân đảm bảo an toàn, trật tự, chấp hành đúng các quy định của pháp luật, đạt hiệu quả. Quá trình tiếp công dân đảm bảo an toàn, trật tự, đúng các quy định của pháp luật, đạt hiệu quả thiết thực, được sự quan tâm của nhân dân, đã có nhiều lượt công dân đã đến trụ sở tiếp công dân để gặp gỡ đại biểu, gửi gắm tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của mình với các cấp chính quyền.

Công tác tham mưu phuc vụ tiếp dân tiếp nhận xử lý, đôn đốc việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân được Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND Thành phố giao cho Phòng Công tác Tiếp công dân.

Trong công tác tiếp công dân, đối với Đoàn ĐBQH: Phòng phân công hai cán bộ (01 phó phòng, 01 chuyên viên) phục vụ đại biểu Quốc hội tiếp công dân định kỳ hàng tuần theo sự phân công của Trưởng Đoàn. Đối với HĐND Thành phố, Phòng Công tác Tiếp công dân tham mưu, phục vụ Thường trực HĐND Thành phố tiếp dân theo vụ việc, rà soát, tổng hợp các vụ việc còn tồn đọng kéo dài, chưa được giải quyết triệt để phối hợp với Ban Pháp chế nghiên cứu vụ việc tham mưu Thường trực tiếp dân hàng tháng; kết quả đã tham mưu Thường trực tiếp 14 vụ việc có nội dung phức tạp, kéo dài chưa được giải quyết trên địa bàn Thành phố, đến nay, đã có 05 vụ giải quyết xong, 08 vụ đã có văn bản trả lời đang tiếp tục giải quyết. Trong theo dõi, tổng hợp công tác tiếp dân của 30 tổ đại biểu HĐND Thành phố: Phòng đã tích cực phối hợp với các Tổ đại biểu và Thường trực HĐND các quận, huyện theo dõi, kiểm tra, nắm bắt thông tin tiếp dân từ các Tổ, báo cáo Thường trực HĐND Thành phố để kịp thời xử lý những khó khăn, vướng mắc, chấn chỉnh các sai sót trong quá trình tổ chức, thực hiện; tổng hợp kết quả tiếp công dân, việc đôn đốc giải quyết đơn thư của các tổ đại biểu báo cáo Thường trực HĐND Thành phố.

Bên cạnh đó, công việc thường xuyên, hàng ngày là tiếp nhận, xử lý, theo dõi và đôn đốc việc giải quyết đơn thư đã được Phòng Công tác Tiếp công dân triển khai thực hiện theo quy trình. Đảm bảo đáp ứng đúng quy định của pháp luật, sự chỉ đạo, phân công của lãnh đạo cơ quan. Đơn thư gửi đến được phân loại, xử lý kịp thời, được nghiên cứu, đề xuất tham mưu chính xác để chuyển tới các cơ quan chức năng giải quyết; được tổng hợp, theo dõi và tham mưu rà soát, đôn đốc theo quy định... Công tác chuyên môn của Phòng từng bước gắn kết chặt chẽ, đảm bảo phục vụ kịp thời hoạt động của Đoàn ĐBQH, HĐND, Thường trực, các Ban và Văn phòng Đoàn ĐBQH HĐND Thành phố.

Một số biện pháp  và đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác tham mưu, phục vụ tiếp dân và đôn đốc giải quyết đơn thư của Đoàn ĐBQH, HĐND đó là cần tiếp tục quan tâm bố trí cán bộ có trình độ, am hiểu các lĩnh vực làm công tác xử lý, phân loại đơn thư; nâng cao chất lượng giải quyết đơn thư KNTC. Đảm bảo đủ về số lượng chuyên viên Văn phòng làm công tác tiếp dân, xử lý đơn thư. Căn cứ vào chức năng, điều kiện thực tiễn trong công tác tham mưu, phục vụ Đoàn ĐBQH, HĐND Thành phố tiếp dân và xử lý đơn thư tại cơ quan Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND Thành phố cần bố trí Phòng Công tác Tiếp công dân theo cơ cấu tổ chức gồm 01 trưởng phòng phụ trách điều hành chung, 02 phó phòng giúp việc trưởng phòng tham mưu, theo dõi, điều hành hai mảng hoạt động Đoàn ĐBQH và của HĐND, 03 – 04 chuyên viên  trực tiếp tham mưu, phục vụ công tác tiếp dân xử lý đơn thư và theo dõi địa bàn các quận huyện.

Tiếp tục tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, kỹ năng tiếp công dân và giải quyết kiến nghị của cử tri cho các đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND và cán bộ tiếp công dân. Tập trung nghiên cứu văn bản pháp luật, tài liệu liên quan đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2012, Luật tiếp công dân có hiệu lực từ ngày 01/7/2013 để phục vụ công tác tiếp dân có chất lượng, hiệu quả cao.

Bên cạnh đó, cần đảm bảo tốt thông tin giữa cán bộ Văn phòng với đại biểu Quốc hội,  HĐND và Tổ đại biểu HĐND nhằm phục vụ tốt việc giám sát của đại biểu đối với các cơ quan đơn vị trong trách nhiệm giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của Đoàn ĐBQH, HĐND. Nắm chắc các vụ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tồn đọng để giám sát việc thực hiện. Xây dựng phần mềm theo dõi, quản lý quá trình tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của Đoàn ĐBQH và HĐND Thành phố.

Đối với cán bộ tham mưu, phục vụ công tác tiếp dân và xử lý đơn thư của Đoàn ĐBQH, HĐND Thành phố cần chủ động nghiên cứu, đề xuất cải tiến quy trình, phương pháp trong tổ chức tiếp công dân của đại biểu HĐND Thành phố. Khi nhận được đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân cần khẩn trương xem xét, phân loại, tham mưu Thường trực, lãnh đạo Đoàn cách xử lý, hướng dẫn công dân hoặc chuyển đơn, yêu cầu các cơ quan chức năng giải quyết, theo dõi chặt chẽ việc giải quyết và yêu cầu giải quyết đúng thời hạn theo luật định. Trường hợp các cơ quan chậm giải quyết, cần có những hình thức tham mưu Thường trực HĐND, lãnh đạo Đoàn ĐBQH đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo như: công văn đôn đốc, chất vấn tại kỳ họp hoặc tổ chức giám sát trực tiếp, giám sát qua thư yêu cầu… Thông báo kịp thời kết quả giải quyết tới công dân có đơn thư. Tích cực nghiên cứu, tổng hợp, rà soát các vụ việc còn tồn đọng, kéo dài, đã nhiều lần đôn đốc chưa có kết quả, văn bản trả lời để tham mưu Thường trực, lãnh đạo Đoàn tiếp dân theo vụ việc... 

PHẠM THANH HƯƠNG

Lượt xem: 511

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.