Giải pháp nâng cao chất lượng xử lý thông tin qua đường dây nóng phục vụ công tác giám sát của HĐND thành phố Hà Nội.

Xác định rõ vai trò quan trọng của thông tin đối với hoạt động giám sát của HĐND, thời gian qua, Thường trực HĐND thành phố Hà Nội luôn coi trọng và chỉ đạo làm tốt công tác xử lý thông tin phục vụ cho hoạt động giám sát. Ngoài việc thường xuyên nắm bắt thông tin qua các nguồn khác, Thường trực HĐND Thành phố còn mở đường dây điện thoại nóng, địa chỉ email, thông qua Trang thông tin điện tử để tiếp nhận nhanh và xử lý kịp thời các thông tin, phản ánh của cử tri...

Hoạt động giám sát của HĐND có nhiều hình thức, phương thức, thông qua nhiều chủ thể, trong đó có giám sát tại các kỳ họp, giám sát giữa các kỳ họp; giám sát của HĐND, của Thường trực, các ban HĐND, các tổ đại biểu và các đại biểu HĐND. Công tác thu thập, xử lý thông tin là khâu đầu tiên của quy trình giám sát và có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát của HĐND. Xử lý thông tin chính xác sẽ giúp cho việc lựa chọn nội dung giám sát vừa bao quát, vừa có trọng tâm, trọng điểm, đúng, trúng, sát thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, mong muốn của cử tri, đồng thời cũng giúp cho việc xây dựng kế hoạch giám sát một cách hợp lý, khoa học, hiệu quả. Ngược lại, nếu không có thông tin hoặc thông tin không đầy đủ, thiếu chính xác sẽ có những tác động, ảnh hưởng đến kết quả giám sát, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND.

Đoàn giám sát của Thường trực HĐND TP khảo sát trực tiếp tại hiện trường

Xác định rõ vai trò quan trọng của thông tin đối với hoạt động giám sát của HĐND, thời gian qua, Thường trực HĐND thành phố Hà Nội luôn coi trọng và chỉ đạo làm tốt công tác xử lý thông tin phục vụ cho hoạt động giám sát của HĐND. Ngoài việc thường xuyên nắm bắt thông tin qua tình hình chung của các quận, huyện, hoạt động của tổ đại biểu HĐND Thành phố và hoạt động của HĐND các cấp ở địa phương; tổng hợp thông tin từ các báo cáo của UBND Thành phố, các sở, ngành, quận, huyện, các đơn vị khác trên địa bàn; thông tin qua công tác tiếp dân; các ý kiến, kiến nghị của nhân dân, của cử tri; các thông tin từ báo chí và các cơ quan thông tấn. Thường trực HĐND Thành phố còn mở đường dây điện thoại nóng, địa chỉ email để tiếp nhận nhanh và xử lý kịp thời các thông tin, phản ánh của cử tri. Đây là kênh thông tin quan trọng giúp hoạt động giám sát của Thường trực và các Ban HĐND được kịp thời và hiệu quả.

 Trên cơ sở những thông tin phản ánh sẽ được xử lý nhanh trực tiếp hoặc có thể phối hợp với công an, chính quyền địa phương xác minh thực tế, qua đó kiến nghị, đề xuất xử lý kịp thời những vụ việc. Sau khi xác định chính xác các thông tin qua đường dây nóng, đối với những vấn đề bức xúc, nổi cộm, Thường trực HĐND Thành phố có thể thành lập Đoàn giám sát, qua đó đã kịp thời phát hiện và xử lý được nhiều vụ việc...Có thể nói, đây thực sự là một kênh thông tin quan trọng của Thường trực HĐND Thành phố, đồng thời là địa chỉ tin cậy không chỉ của cử tri mà còn là của du khách, người địa phương khác khi đến với Thủ đô Hà Nội.

Hiện nay, nhiều địa phương trong cả nước đã thiết lập đường dây nóng để nhân dân, cử tri địa phương đóng góp, phản hồi ý kiến. Sử dụng đúng và hiệu quả hình thức này, cần hiểu ý nghĩa, vai trò, mục đích của “đường dây nóng”, nếu không sẽ dẫn đến việc sử dụng không hiệu quả hoặc có tác dụng ngược, lãng phí, tạo tâm lý “phản cảm” từ phía cử tri.

Tuy nhiên, trong thực tế, có nơi “đường dây nóng” bị sử dụng không như ý nghĩa ban đầu khi mà một vài cử tri coi “đường dây nóng” như một nơi để giải tỏa bức xúc, khiếu nại những vụ việc của mình như: thông tin tố cáo, khiếu nại, tranh chấp đất đai, các vụ án, chính sách xã hội đối với tổ chức, cá nhân cụ thể ... chưa được giải quyết hay đã giải quyết nhưng người dân cho là chưa thỏa đáng. Việc sử dụng như vậy là chưa đúng mục đích của “đường dây nóng”, sẽ gây “rối” và “nhiễu” thông tin, làm giảm tác dụng của kênh thông tin này.

Do vậy, để xử lý thông tin qua “đường dây nóng” có hiệu quả, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

1- Tuyên truyền để người dân biết, hiểu và sử dụng đúng mục đích của “đường dây nóng”.

2 - Tổ chức bộ máy cán bộ giúp việc có trình độ chọn lọc ý kiến có giá trị, tổng hợp và xử lý nhanh thông tin để phục vụ cho hoạt động giám sát của HĐND. Việc xử lý thông tin phải đảm bảo tính chính xác khoa học, khách quan, đảm bảo tính pháp lý của các thông tin

3. Xử lý thông tin phải chú ý công tác tổng hợp, kết nối thông tin với nhau để rút ra những điểm quan trọng, những vấn đề trọng tâm, nổi cộm được dư luận quan tâm chứ không đơn thuần chỉ là việc tập hợp, cộng dồn các thông tin. Yêu cầu của thông tin là phải khách quan, chính xác, đầy đủ và kịp thời. Thông tin phải được kiểm chứng, xác nhận tính đúng đắn, xác thực, tránh việc nghe thông tin một chiều, không đầy đủ dẫn đến những phỏng đoán, nhận định sai phù họa thêm cho người cấp tin. Thông tin phải được phân tích, xử lý ở những góc độ khác nhau đứng trên quan điểm pháp luật, trên cơ sở đó đưa ra được những nhận định đúng.

4. Đặc biệt quan tâm đến những thông tin phản hồi của nhân dân, cử tri hoặc của dư luận quần chúng, của các cơ quan quản lý hay của các tổ chức được giao  thực hiện đối với các chính sách, biện pháp mà HĐND đã quyết nghị và đối với những ý kiến UBND trả lời kiến nghị của cử tri.

5. Trên cơ sở tập hợp, cần chú ý công tác tổng hợp, phân tích, xử lý thông tin để có thể nhìn nhận sâu sắc, khách quan và toàn diện các vấn đề của thực tiễn. Không nên tuyệt đối hóa bất kỳ một nguồn thông tin nào, mà cần phải đối chiếu, sàng lọc kỹ càng để loại bỏ những thông tin không chính xác, cần xác định mức độ bức xúc, nổi cộm, đề xuất biện pháp xử lý, giải quyết thỏa đáng.

6. Chú trọng việc kết nối thông tin để phát huy hiệu quả hoạt động giám sát nhờ tính liên tục và đồng bộ trong hoạt động của HĐND. 

HOÀNG THỊ TÚ ANH

Lượt xem: 464

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.