Góp ý kiến vào dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội: Bảo vệ tốt quyền lợi người lao động

Đa số các ý kiến cho rằng dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) có nhiều nội dung mới tạo điều kiện tốt hơn cho việc bảo vệ quyền lợi người lao động, thể hiện nguyên tắc bình đẳng giới khi bổ sung một số quy định về việc cả nam và nữ được hưởng chế độ nghỉ khi sinh con, nuôi con dưới sáu tháng tuổi, bổ sung quy định phù hợp với quy định về chế độ thai sản đối với lao động nữ mang thai hộ và nhờ mang thai hộ...

Sáng 18-9, Đoàn ĐBQH TP Hà Nội tổ chức hội nghị lấy ý kiến góp ý và dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), Đồng chí Nguyễn Thị Hồng Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố chủ trì hội nghị.

Dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) gồm 9 Chương với 127 điều quy định về chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội; quyền và trách nhiệm của người lao động, của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội, tổ chức đại diện tập thể lao động, tổ chức đại diện người sử dụng lao động; cơ quan bảo hiểm xã hội; quỹ bảo hiểm xã hội; thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội; quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội.

Lãnh đạo Đoàn ĐBQH TP Hà Nội tiếp thu các ý kiến đóng góp

Đa số các ý kiến cho rằng dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) có nhiều nội dung mới tạo điều kiện tốt hơn cho việc bảo vệ quyền lợi người lao động, thể hiện nguyên tắc bình đẳng giới khi bổ sung một số quy định về việc cả nam và nữ được hưởng chế độ nghỉ khi sinh con, nuôi con dưới sáu tháng tuổi, bổ sung quy định phù hợp với quy định về chế độ thai sản đối với lao động nữ mang thai hộ và nhờ mang thai hộ...

Nhiều ý kiến đồng tình với việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đối với nhóm đối tượng làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ 1 tháng đến dưới 3 tháng để bảo vệ quyền lợi cho người lao động, theo đó phải tăng cường quản lý quỹ bảo hiểm xã hội, quy định rõ về trách nhiệm trong việc triển khai quy định mở rộng đối tượng bảo hiểm. Tuy nhiên, có một số ý kiến băn khoăn về tính khả thi của quy định này do công tác quản lý đối tượng phức tạp, đối với hợp đồng mang tính thời vụ thì việc ký hợp đồng bằng văn bản ít khi xảy ra, thường các chủ lao động chỉ hợp đồng “miệng” với người lao động, mặt khác việc ứng dụng công nghệ thông tin quản lý lao động còn hạn chế. 

Bà Lê Kim Anh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố cho rằng, quy định đối với người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện sau này chỉ được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất là bất hợp lý và thiếu công bằng  trong trường hợp lao động nữ đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, có nghĩa đã có thời gian đóng vào quỹ bảo hiểm thai sản, nhưng vì lý do không trúng cử, hoặc vì một lý do nào khác mà chuyển sang đóng bảo hiểm tự nguyện lại không được hưởng chế độ thai sản, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định cho phù hợp.

Ông Phạm Duy Đỉnh, Giám đốc BHXH quận Đống Đa cho rằng quy định trách nhiệm các Bộ, các cấp các ngành như dự thảo Luật là không khả thi: “Những quy định này tôi vẫn thấy chưa khả thi lắm vì vẫn chưa chỉ ra ai chịu trách nhiệm. Tôi đề nghị ví dụ ở Trung ương bộ nào chịu trách nhiệm, ở địa phương cấp nào chịu trách nhiệm, chứ mở rộng đối tượng bao nhiêu năm nay đến giờ vẫn trì trệ, bây giờ Giám đốc BHXH chịu trách nhiệm hay Chủ tịch chính quyền địa phương chịu trách nhiệm, phải chỉ ra. Việc này cũng nên giao trách nhiệm cho Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp. Khi đã giao trách nhiệm thì phải có kiểm điểm đánh giá trách nhiệm thì mới có cơ hội mở rộng đối tượng theo Nghị quyết của Đảng được”.

Góp ý về điều kiện hưởng lương hưu suy giảm khả năng lao động, nhiều ý kiến cho rằng việc tăng độ tuổi được hưởng lên 5 năm là không hợp lý. Đồng thời đề nghị giữ nguyên như luật hiện hành, nam đủ 50, nữ đủ 45 tuổi trở lên có thời gian đóng BHXH 20 năm nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

Bà Tô Thị Thanh Hương, Phó Chủ tịch Hội Luật gia đề nghị nên giữ nguyên như quy định hiện hành:  “Theo sửa đổi của dự thảo Luật thì đối tượng này phải làm thêm 5 năm nữa trong khi sức khỏe không đảm bảo. Nếu thực tế mà bị giảm 61% sức lao động thì đã rất yếu rồi. Nên theo chúng tôi thay vì tăng tuổi đối với các đối tượng này khi được hưởng lương hưu thì cần quy định c hặt chẽ công tác giám định sức khỏe của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vừa rồi ồ ạt có các đối tượng đi giám định sức khỏe để về hưu trước tuổi nhưng chúng ta phải xem bản chất vấn đề, công tác giám định này đã chính xác chưa”.

Góp ý vào quy định giải quyết hưởng chế độ thai sản, bà Bùi Thúy Mơ, Sở Tư pháp cho rằng “quy định như dự thảo Luật thì tổng số thời gian để người lao động nhận được tiền trợ cấp thai sản có thể lên tới 50 ngày kể cả ngày nghỉ và thời gian chuyển tiền (trên thực tế thì việc chi trả trợ cấp thai sản thường dài hơn thời gian quy định rất nhiều, cá biệt có những trường hợp người lao động sau khi sinh một năm mới nhận được trợ cấp). Trong khi đó thủ tục giải quyết hưởng chế độ thai sản không phải là thủ tục phức tạp vì thành phần hồ sơ rất rõ ràng. Do vậy, theo tôi để tạo điều kiện cho người lao động trang trải các chi phí sau khi sinh con, bảo đảm cuộc sống cho người lao động sau sinh, dự thảo cần rút ngắn hơn thời gian giải quyết ở cả 3 khâu lập hồ sơ, giải quyết chế độ và chi trả trợ cấp cho người lao động”.

Thay mặt Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội, Bà Nguyễn Thị Hồng Hà, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH nhấn mạnh, qua 17 lượt đại biểu phát biểu ý kiến, có sự trao đi đổi lại các ý kiến đã góp ý vào hầu hết các điều của dự thảo Luật. Đoàn ĐBQH Thành phố sẽ tiếp thu, tổng hợp báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội để nghiên cứu, chỉnh sửa bổ sung vào dự án Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 8 sắp tới./.

HOÀI THƯƠNG – ĐÌNH HOÀNG

Lượt xem: 405

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.