Góp ý kiến vào dự thảo Luật Tổ chức Quốc hội: Không nên có thêm chức danh Tổng thư ký

Sau gần 14 năm thi hành, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2007) đã có đóng góp quan trọng, làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội từng bước đổi mới hoạt động theo hướng ngày càng dân chủ, thực chất và hiệu quả, đặc biệt là trong hoạt động xây dựng pháp luật, quyết đáp những vấn đề trọng đaị của đất nước.

Sáng ngày 18/3, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến Đại biểu Quốc hội và các cơ quan liên quan về Dự thảo Luật Tổ chức Quốc hội.

Tại Hội nghị, đa số ý kiến đại biểu cho rằng sau gần 14 năm thi hành, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001 (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2007) đã có đóng góp quan trọng, làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và đại biểu Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội từng bước đổi mới hoạt động theo hướng ngày càng dân chủ, thực chất và hiệu quả, đặc biệt là trong hoạt động xây dựng pháp luật, quyết đáp những vấn đề trọng đaị của đất nước.

Ông Chu Sơn Hà, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Hà Nội tiếp thu các ý kiến đóng góp

Tuy nhiên, bên cạnh đó Luật cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập như: Một số quy định của Luật còn chung chung, trùng lắp hoặc chưa thống nhất với các Luật khác hoặc một số vấn đề xuất phát từ đòi hỏi của thực tiến như việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm; về quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội khi tham dự kỳ họp HĐND các cấp, chế định tiếp công dân; việc rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ Quốc hội; việc công dân được tham dự các phiên họp công khai của Quốc hội …

Mặt khác, Hiến pháp năm 2013 đã được thông qua có nhiều nội dung mới liên quan đến các Luật về tổ chức nói chung trong đó có Luật Tổ chức Quốc hội. Vì vậy, để bảo đảm phù hợp với Hiến pháp mới, việc chuẩn bị để Quốc hội xem xét thông qua Luật Tổ chức Quốc hội mới là cần thiết.

Bà Tô Thị Thanh Hương, Hội Luật gia Thành phố cho rằng Dự thảo luật đã có một số thay đổi về mặt kết cấu các chương, điều hợp lý, đã bổ sung nhiều quy định mới về tổ chức, chức năng và nhiệm vụ của Quốc hội, các cơ quan Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo Hiến pháp 2013. Các vấn đề đều được qui định chi tiết, có thể thực hiện được ngay mà không cần chờ các quy định trong các văn bản khác. Tuy nhiên, Chương IV của Dự luật đề cập đến Đại biểu Quốc hội, cần được đưa lên ngay sau chương I để thể hiện rõ vai trò, tầm quan trọng về vị trí của Đại biểu Quốc hội là trung tâm.

Ông Đỗ Minh Sơn, Sở Tư pháp Thành phố cho rằng Ban soạn thảo cần cân nhắc về chức danh Tổng thư ký Quốc hội quy định tại Điều 8 dự thảo Luật vì Hiến pháp 2013 không quy định chức danh này; ngoài ra, trong xu thế cải cách bộ máy, tránh hình thức, phình biên chế thì việc quy định chức danh này là không cần thiết. Hiện nay, mỗi kỳ họp đều có Ban thư ký và có Trưởng Ban thư ký phục vụ cho kỳ họp. Mặt khác, nếu có chức danh này thì hoạt động của người giữ chức danh này khi Quốc hội không họp ra sao (Điều 37 dự thảo quy định vị trí của Tổng thư ký Quốc hội và hoạt động của Đoàn thư ký chủ yếu chỉ diến ra khi Quốc hội tổ chức họp), trong khi đã có chức danh Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, người chịu trách nhiệm chính về hoạt động của Quốc hội cả trong khi Quốc hội họp và không họp.

Theo Tiến sĩ Phạm Quý Tỵ, nguyên ĐBQH Thành phố cho rằng khoản 1, Điều 21 quy định về bỏ phiếu tín nhiệm, Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu và phê chuẩn. Từ điểm a đến điểm d khoản 1 nêu cụ thể các chức danh Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm, đến điểm đ quy định: “Người giữ các chức vụ khác do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn”. Cách thể hiện như Khoản 1, cho thấy, không cần phải chia ra thành nhiều điểm mà chỉ cần một điểm đ là đã điều chỉnh đủ tất cả những người cần bỏ phiếu tín nhiệm. Vì quy định về bỏ phiếu tín nhiệm không có sự phân biệt giữa các chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn. Trong trường hợp Ban soạn thảo muốn quy định các chức danh quy định từ điểm a đến điểm d là thành phần “cứng” phải bỏ phiếu tín nhiệm, còn những chức danh khác thì có một số chức danh không bỏ phiếu tín nhiệm thì điểm đ cần quy định khác. Đó là điểm đ quy định các chức danh khác phải bỏ phiếu tín nhiệm và những chức danh không phải bỏ phiếu tín nhiệm. Vì vậy, để đảm bảo tính minh bạch trong văn bản pháp luật thì Điều 21 nên quy định theo phương án liệt kê những chức danh mà Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm, quy định như vậy cũng dễ áp dụng hơn.

Đại diện cho Công an Thành phố, ông Nguyễn Duy Ngọc cho rằng quy định tại khoản 1 điều 110 là không hợp lý vì số lượng đại biểu Quốc hội thay đổi tùy theo sự thay đổi về quy mô dân số, số lượng cử tri của mỗi khóa Quốc hội, ngoài ra, còn phụ thuộc vào tình hình cải cách bộ máy hành chính, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội…của nước ta trong từng giai đoạn phát triển. Theo đó, việc quy định số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách ít nhất là 35% tổng số đại biểu Quốc hội cũng cần phải sửa đổi, tăng lên thành 50% tổng số đại biểu Quốc hội mới thực hiện tốt hơn nhiệm vụ giám sát mà nhân dân giao phó.

Kết thúc hội nghị, thay mặt Đoàn ĐBQH Thành phố, ông Chu Sơn Hà, Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc Hội thành phố Hà Nội tiếp thu và đánh giá cao những ý kiến đóng góp tâm huyết của các đại biểu tham dự Hội nghị và khẳng định, những kiến nghị này sẽ được Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội tổng hợp trình lên Ban soạn thảo để nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung vào các điều, khoản của Luật và trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp tới.

THANH HÀ          

Lượt xem: 390

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.