Góp ý vào dự thảo sửa đổi Luật Đất đai:

Khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu chính là quan điểm chủ trương, đường lối của Đảng, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.

Khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu chính là quan điểm chủ trương, đường lối của Đảng, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu của nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.

                                                                                     Nguyễn Xuân Diên                  

  Phó Chánh văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND TP Hà Nội

Luật Đất đai đầu tiên của Việt Nam được ban hành vào năm 1987. Từ đó đến nay Luật Đất đai đã được sửa đổi bổ sung 4 lần. Việc sửa đổi Luật Đất đai lần này, về chế định sở hữu đối với đất đai là vấn đề chính trong nội dung của Luật, đây cũng là một nội dung quan trọng gắn liền với việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, cần được luận bàn thấu đáo để có được quy định đúng đắn hợp lòng dân, bảo đảm cho sự ổn định và phát triển của đất nước.

Vì sao phải giữ nguyên chế định về đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân do Nhà nước là chủ đại diện duy nhất? Trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta hiện nay,dưới Hiến pháp thìLuật Đất đai là một đạo luật đứng vào hàng quan trọng bậc nhất. Đã nói đến Quốc gia thì luôn phải gắn liến với chủ quyền về lãnh thổ. Ở Việt Nam ta, “Quốc gia công thổ” là chế định được hình thành từ chính lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Để bàn về vấn đề này, trước hết phải khẳng định: Lãnh thổ nước Việt Nam (trong đó có Đất đai – tài sản đặc biệt quý giá gắn với trách nhiệm và quyền của mỗi công dân) có được như ngày hôm nay cái giá mà dân tộc ta, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam phải chiến đấu, hy sinh xương máu để bảo vệ, giữ gìn quá lớn. Hay nói không ngoa rằng mỗi tấc đất đều thấm máu và mồ hôi của dân ta.

Nhìn lại lịch sử của thế giới và của nước ta, cho thấy hầu hết các cuộc chiến tranh xưa và nay giữa các quốc gia trên thế giới đều bắt nguồn từ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, nguồn lợi từ tài nguyên đất… Trong mỗi quốc gia thì đất đai là tài nguyên đặc biệt, là nguồn lực vô cùng quan trọng của đất nước. Với người dân thì đất đai là nơi ở, là nơi để sản xuất tạo dựng nên nguồn sống. Trong cương lĩnh thành lập của Đảng cộng sản Việt Nam, mục tiêu quan trọng nhất mà Đảng phải lãnh đạo nhân dân đấu tranh đạt được là độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, lập nên nhà nước của dân, do dân và vì dân; bảo đảm người cày có ruộng…

Từ khi lập nước ngày 2 tháng 9 năm 1945 đến nay, nhà nước ta đã có 4 bản Hiến pháp; các bản Hiến pháp đều quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Suy xét thật sâu, rộng về đặc điểm vị trí địa lý và điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, đất đai không chỉ là một phạm trù kinh tế, mà còn thuộc phạm trù chính trị - xã hội, an ninh - quốc phòng; đất đai là nguồn lực đặc biệt cho sự phát triển đất nước… Dù ở đất liền hay hải đảo, đất đai ở đâu thuộc lãnh thổ Việt Nam, nếu là người Việt Nam thì đều phải có trách nhiệm giữ gìn bảo vệ và đều được hưởng lợi từ giá trị của đất dưới mọi hình thức. Bản chất Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. “Tất cả quyền lực thuộc về nhân dân”, thì nhân dân phải là chủ sở hữu đối với tư liệu sản xuất đặc biệt quý giá của quốc gia là đất đai. Đất đai là thành quả của sự nghiệp giữ nước và dựng nước lâu dài của cả dân tộc, không thể để cho một số người nào đó may mắn trên thị trường có quyền độc chiếm sở hữu. Quyền sở hữu chung đối với đất đai là lẽ phải, tất nhiên của lịch sử hình thành nhà nước Việt Nam. Việc khẳng định Nhà nước là đại diện duy nhất cho nhân dân là sở hữu đối với đất đai là hoàn toàn đúng đắn và việc không công nhận các hình thức sở hữu khác về đất đai là hoàn toàn nhất quán với các quan điểm chủ trương, chính sách của Đảng, quy định của Hiến pháp. Sở hữu toàn dân tạo điều kiện để những người lao động có điều kiện tiếp cận đất đai tự do, tạo nên cơ chế để người lao động có quyền hưởng lợi ích từ đất đai một cách có lợi hơn, công bằng hơn và bình đẳng hơn.  

Tuy nhiên cũng phải thừa nhận trong thời gian qua, một số quy định của Luật Đất đai năm 2003 và phương thức Nhà nước thực hiện Luật Đất đai năm 2003, cùng với sự phát triển của đất nước có nhiều điểm chưa hợp lý cần phải khắc phục. Vấn đề gây bức xúc nhất hiện nay ở nước ta là ở chất lượng, thái độ thực thi Luật Đất đai của cơ quan và công chức nhà nước chưa tốt, tồn tại quá nhiều trường hợp lạm dụng quyền lực công phục vụ cho mục tiêu riêng của cá nhân, của gia đình, của nhóm lợi ích cũng như cơ chế phân chia lợi ích từ đất chưa công bằng giữa các nhóm lợi ích khác nhau, giữa người sử dụng đất và Nhà nước. Có khá nhiều trường hợp cơ quan nhà nước thu hồi đất của dân chưa bảo đảm phù hợp pháp luật và thực tế. Giá trị quyền sử dụng đất chưa được đánh giá đúng, chưa coi đó là một thức hàng hóa đặc biệt. Tình trạng quy hoạch bị điều chỉnh tùy tiện, quy hoạch treo, tình trạng đất thu hồi bị bỏ hoang còn người mất đất lâm vào tình trạng thất nghiệp, khó khăn… cho thấy quản lý của Nhà nước chưa sâu sát, còn bị lợi dụng làm trái, gây thiệt hại lớn cho nhà nước và người dân. Với yêu cầu cần phải có trong chế độ sở hữu toàn dân về đất đai thì việc lý sự lấy các yếu kém, khuyết điểm trong quản lý về đất đai, muốn chuyển toàn bộ quyền sở hữu đó cho khu vực tư nhân thông qua tư hữu hóa hoặc đa dạng hóa sở hữu đất đai là không thuyết phục.     

Nếu công nhận sở hữu tư nhân về đất đai là sai lầm gây hậu họa cho đất nước. Đó là quan điểm của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân khi bày tỏ ý kiến đối với việc hoàn thiện Dự thảo sửa đổi Luật Đất đai năm 2003. Tuy vậy, hiện nay vẫn có nhiều ý kiến ngược chiều, băn khoăn về việc có nên hay không nên công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai? Phải nói rằng đây là vấn đề lớn và rất hệ trọng. Chỉ cần quyết định sai lầm sẽ phải gánh chịu hậu quả khó lường. Nếu chia nhỏ diện tích đất đai của quốc gia giao cho nhiều pháp nhân, tư nhân sở hữu sẽ là nguy cơ của mâu thuẫn lợi ích khó có thể điều hòa, tạo nên sự phân hóa xã hội sâu sắc, nguy cơ về tiêu cực, tham nhũng, dễ xảy ra xung đột giữa các tầng lớp nhân dân, an ninh chính trị không được đảm bảo; chủ quyền quốc gia dễ bị xâm lấn và tiềm ẩn nguy cơ bùng phát nội chiến, ngoại xâm.

Tìm hiểu các nước xung quanh ta như: Trung Quốc, Nga hay Thái Lan, luật pháp của họ đều quy định rất rõ về quyền tối cao, toàn diện của Nhà nước, Chính phủ trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với đất đai. Pháp nhân và tư nhân bị giới hạn về quyền định đoạt và sử dụng, đó là 2 trong 3 quyền thuộc quyền sở hữu. Nhà nước Mỹ cũng giành quyền tối cao về thu hồi đất đối với những pháp nhân, tư nhân có hành vi quản lý, sử dụng và định đoạt đất nếu làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, ảnh hưởng đến cộng đồng. Như vậy có thể thấy các quốc gia đều rất chú ý đến giới hạn quyền sở hữu về đất đai. Nếu sự tích tụ, tập trung đất vào tay một ít người, thì bao nhiêu năm nữa chúng ta mới có thể giải quyết hết hậu quả những người nông dân không có đất, không còn kế sinh nhai, khi đa phần đất nông nghiệp được chuyển giao theo con đường sở hữu tư nhân cho một số người? Do đất là tài sản riêng nên người dân có quyền định đoạt nó như hàng hóa trên thị trường bất động sản. Lợi dụng khó khăn hoặc kém hiểu biết của nông dân, một bộ phận người có tiền thu gom đất đai để trở thành địa chủ. Điều này đã diễn ra trong cải cách ruộng đất của chế độ Mỹ - Diệm những năm 60 của thế kỷ XX ở Miền Nam nước ta. Ngay cả ở giai đoạn hiện nay, nếu duy trì phổ biến sở hữu tư nhân đối với đất đai cũng sẽ dẫn đến hiện trạng người có nhiều tiền thu gom đất đai và chỉ sử dụng đất vì mục đích cá nhân như làm trang trại để nghỉ ngơi, giải trí, cho thuê nhằm kiếm lời… Đây sẽ là nguyên nhân dẫn đến một bộ phận nông dân đói nghèo vì không có đất. Chúng ta không bao giờ lại muốn: Làm cách mạng bao nhiêu năm để rồi đưa người nông dân Việt Nam trở về chế độ nông nô - địa chủ như trước kia. Phải tạo cơ chế công bằng ngay từ gốc, tức là người lao động phải có tư liệu sản xuất, trong đó có đất đai, để lao động mưu sinh. Sở hữu tư nhân đất đai sẽ làm cho người nghèo mất đất, và khi không có tư liệu sản xuất, người nghèo có thoát nghèo được không?

Việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và Luật Đất đai năm 2003, nếu tiếp tục khẳng định Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai, thì cũng phải quy định rõ ràng và cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cá nhân người có thẩm quyền và người dân về lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai. Chính phủ, các bộ, ngành liên quan và chính quyền địa phương phải đẩy mạnh cải cách hành chính, minh bạch hóa, công khai hóa cơ chế quản lý, sử dụng đất đai; xiết chặt kỷ luật và trách nhiệm thừa hành nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Nên chuyển giao cho người dân những quyền mà người sử dụng đất thực thi có lợi hơn cơ quan nhà nước. Ngăn chặn ngay việc thu hồi đất một cách tùy tiện của cơ quan nhà nước cho các mục đích “gọi là” dự án phát triển kinh tế - xã hội phục vụ cho “nhóm lợi ích” nào đó, làm bần cùng hóa nhiều người dân, khi họ không còn đất sản xuất. Phải coi giá trị quyền sử dụng đất là một thứ hành hóa đặc biệt. Giá đất thu hồi đất phải tính đến sự phân chia địa tô chênh lệch trong xã hội mà Nhà nước là đại diện, giữa người có đất bị thu hồi và người nhận đất sử dụng cho mục đích mới. Nhà nước cũng phải chú trọng hơn và coi việc xây dựng hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là giải pháp, công cụ quản lý vì lợi ích quốc gia, bảo đảm các quy định của Luật Đất đai khi thực thi mang lại hiệu quả…

 

Lượt xem: 406

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.