Hệ thống tổ chức của Hải quan vẫn được xây dựng theo nguyên tắc quản lý ngành và theo lãnh thổ nhưng đồng thời phải căn cứ vào yêu cầu công việc

Dự thảo lần này đã được sửa đổi phù hợp với việc hội nhập Quốc tế và quá trình hiện đại hóa hoạt động Hải quan hiện nay và đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước về hải quan và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; nhiều nội dung được quy định theo hướng đổi mới toàn diện hoạt động Hải quan, phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Chiều ngày 10/4, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến Đại biểu quốc hội và các cơ quan liên quan về Dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi).

Tại Hội nghị, đa số ý kiến đại biểu tán thành với các nội dung của Dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi). Dự thảo lần này đã được sửa đổi phù hợp với việc hội nhập Quốc tế và quá trình hiện đại hóa hoạt động Hải quan hiện nay và đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước về hải quan và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; nhiều nội dung được quy định theo hướng đổi mới toàn diện hoạt động Hải quan, phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Phó Trưởng đoàn ĐBQH Hà Nội Chu Sơn Hà tiếp thu các ý kiến đóng góp

Về hệ thống tổ chức Hải quan quy định tại Điều 13, ông Nguyễn Văn Hồng, Cục Hải quan Hà Nội cho rằng trong điều kiện hội nhập quốc tế và quá trình hiện đại hóa hoạt động hiện nay, việc tổ chức cơ quan hải quan phải bảo đảm hệ thống tổ chức chặt chẽ, tinh gọn, hiệu quả trong điều kiện ứng dụng khoa học - kỹ thuật trong công tác quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, người và phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh. Đây cũng là xu hướng tổ chức của hải quan các nước trên thế giới hiện nay. Hệ thống tổ chức của hải quan vẫn được xây dựng theo nguyên tắc quản lý ngành và theo lãnh thổ nhưng đồng thời phải căn cứ vào yêu cầu công việc; quy mô, tính chất hoạt động xuất nhập khẩu; đặc thù địa bàn, điều kiện kinh tế xã hội. Vì vậy, việc bổ sung tiêu chí như dự thảo là cần thiết và phù hợp.

Theo ý kiến của ông Phạm Văn Kết, Ban quản lý các Khu công nghiệp và chế xuất Hà Nội, tại điều 22 Dự thảo Luật quy định: “việc kiểm tra hồ sơ phải hoàn tất chậm nhất 2 giờ làm việc kể từ thời điểm tiếp nhận hồ sơ và việc kiểm tra thực tế hàng hóa hoàn thành chậm nhất 8 giờ làm việc” là chưa hợp lý. Đề nghị cần phân loại thời hạn chi tiết cho việc kiểm tra thực tế hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa xuất khẩu. Đối với những lô hàng lớn, nhiều chủng loại cần ghi rõ là tổng thời gian kiểm tra không quá 20 ngày làm việc, tránh trường hợp kéo dài do thời gian ra quyết định hơn 2 ngày.

Bà Tô Thị Thanh Hương, Hội Luật gia Thành phố đề nghị việc kiểm tra sau thông quan (Điều 76 Dự thảo Luật) tại trụ sở người khai hải quan là chủ yếu để đảm bảo thuận lợi cho doanh nghiệp, tránh việc doanh nghiệp phải mang các hồ sơ, chứng từ, tài liệu, sổ sách đến cơ quan hải quan kiểm tra. Chỉ quy định một số trường hợp cụ thể việc kiểm tra sau thông quan tại trụ sở hải quan. Việc giao thẩm quyền quyết định kiểm tra sau thông quan cho nhiều chủ thể khác nhau như Tổng Cục trưởng Tổng cục Hải quan, Cục trưởng Cục hải quan, Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan mà không phân định rõ thẩm quyền đó được giao trong trường hợp nào dễ dẫn đến chồng chéo, trùng lặp, không rõ trách nhiệm.

Ông Nguyễn Duy Ngọc, Công an Thành phố cho rằng quy định việc sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính (Khoản 2 Điều 103) theo hướng mở rộng thêm các hành vi được tạm giữ người theo thủ tục hành chính là: “người có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” là chưa hợp lý vì hiện nay thực tế có nhiều hành vi vi phạm cần phải tạm giữ người theo thủ tục hành chính ngoài các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới nêu trên. Nếu Dự thảo Luật chỉ bổ sung thêm hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và được Quốc hội thông qua thì các Văn bản Quy phạm pháp luật khác cũng đề nghị bổ sung thêm các hành vi tạm giữ người theo thủ tục hành chính, như vậy quy định về việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính sẽ bị tản mác, nằm rải rác trong các văn bản khác nhau. Vì vậy, Công an Thành phố đề nghị không bổ sung thêm các hành vi được tạm giữ người theo thủ tục hành chính trong Dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi) mà Ban soạn thảo cần kiến nghị Quốc hội có Luật riêng để bổ sung, sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính theo hướng bổ sung thêm tất cả các hành vi vi phạm cần phải tạm giữ người theo thủ tục hành chính. Sau đó căn cứ vào Luật bổ sung, sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính để ban hành Luật Hải quan (sửa đổi).

Kết thúc hội nghị, thay mặt Đoàn ĐBQH Thành phố, đồng chí Chu Sơn Hà, Phó trưởng Đoàn Đại biểu Quốc Hội thành phố Hà Nội tiếp thu và đánh giá cao những ý kiến đóng góp tâm huyết của các đại biểu tham dự Hội nghị và khẳng định, những kiến nghị này sẽ được Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội tổng hợp trình lên Ban soạn thảo để nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung vào các điều, khoản của Luật và trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp tới.

 THANH HÀ

Lượt xem: 477

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.