Hội nghị đóng góp ý kiến vào dự thảo Luật Thủy lợi

Chiều ngày 24/3/2017, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội tổ chức hội nghị lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật Thủy lợi. Đồng chí Ngọ Duy Hiểu, Thành ủy viên, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố và đồng chí Bùi Huyền Mai, đại biểu Quốc hội chuyên trách đồng chủ trì hội nghị.

Chiều ngày 24/3/2017, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội tổ chức hội nghị lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật Thủy lợi. Đồng chí Ngọ Duy Hiểu, Thành ủy viên, Phó Trưởng đoàn ĐBQH Thành phố và đồng chí Bùi Huyền Mai, đại biểu Quốc hội chuyên trách đồng chủ trì hội nghị.

Dự thảo Luật Thủy lợi lấy ý kiến lần này gồm gồm 9 chương, 70 điều, quy định về hoạt động thủy lợi; quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thủy lợi, quản lý nhà nước về thủy lợi.

Các đại biểu tham dự hội nghị

Tại Hội nghị các ý kiến đều thống nhất với sự cần thiết phải ban hành Luật Thủy lợi nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc, ổn định cho quản lý, phát triển lĩnh vực thủy lợi trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia, tuy nhiên các ý kiến cũng đề nghị cần quy định phạm vị điều chỉnh cho phù hợp, quy định rõ về công tác quy hoạch thủy lợi cũng như bổ sung quy định về xã hội hóa trong xây dựng các công trình thủy lợi nhằm huy động tối đa nguồn lực xã hội trong quá trình hiện đại hóa ngành thủy lợi, đáp ứng yêu cầu phát triển vào dự thảo Luật.

Về phạm vi điều chỉnh của Luật, dự thảo Luật Thủy lợi quy định: "Luật này quy định về hoạt động thủy lợi; quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thủy lợi, quản lý nhà nước về thủy lợi"

Luật sư Trương Quang Cẩn đại diện Hội Thủy lợi Việt Nam cho rằng, quy định phạm vi điều chỉnh như dự thảo Luật là không rõ ràng và quá hẹp, không bao quát hết nội dung điều chỉnh của Luật,  đề nghị sửa phạm vi điều chỉnh của Luật là: "Luật này quy định điều tra cơ bản, chiến lược, quy hoạch thủy lợi; đầu tư xây dựng công trình thủy lợi; quản lý, khai thác, vận hành công trình thủy lợi, hồ chưa thủy điện phục vụ thủy lợi; bảo vệ môi trường nước, công trình thủy lợi; thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng; quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân và cộng đồng trong hoạt động thủy lợi và trách nhiệm quản lý nhà nước về thủy lợi”.

Luật gia Đỗ Minh Sơn - Hội Luật gia TP Hà Nội đề nghị Ban soạn thảo cần quy định rõ hơn, đầy đủ hơn về phạm vi điều chỉnh của Luật vì nội dung dự thảo Luật đề cập đến rất nhiều nội dung khác như: hợp tác quốc tế về thủy lợi, bảo đảm an toàn công trình thủy lợi, thủy lợi nhỏ, thủy lợi nội đồng và các hoạt động có liên quan trực tiếp đến thủy lợi… Quy định như dự thảo Luật chưa thể hiện được tính đa mục tiêu của hoạt động thủy lợi và mối quan hệ giữa thủy lợi với các ngành kinh tế khác.

Nhiều ý kiến quan tâm đến quy định về quy hoạch thủy lợi, Luật gia Đỗ Minh Sơn cho rằng thủy lợi là một ngành đặc thù liên quan chặt chẽ đến tài nguyên nước, nguồn sống của con người và sự phát triển của mỗi quốc gia, vì vậy rất cần phải có quy hoạch được lập để quản lý, đặc biệt là quy hoạch thủy lợi ở tầm quốc gia. Đề nghị Ban soạn thảo rà soát lại quy định của dự thảo Luật quy hoạch (dự kiến sẽ trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 3 tới) để bảo đảm không mâu thuẫn, chồng chéo. Khi xây dựng các loại quy hoạch thủy lợi phải có sự tương thích với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch không gian biển quốc gia. Mặt khác, quy hoạch thủy lợi phụ thuộc vào vị trí địa lý, đặc điểm khí hậu vùng, nguồn tài nguyên nước… Đồng thời phải bảo đảm tương thích với hệ thống hạ tầng thủy lợi đã, đang và sẽ được xây dựng. Do vậy, bên cạnh tính dự báo cao thì quy hoạch thủy lợi nên có tính linh hoạt để có thể điều chỉnh một cách kịp thời nhằm đáp ứng với sự biến đổi của khí hậu, giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra.

GS.TS Phạm Ngọc Quý (nguyên Phó hiệu trưởng ĐH Thủy lợi) đề nghị nội dung quy hoạch thủy lợi cần thể chế hóa để luật và văn bản dưới luật được ban hành và có hiệu lực đồng bộ để quy hoạch thủy lợi gắn với quy hoạch của các ngành kinh tế, xã hội, du lịch, cơ sở hạ tầng khác của quốc gia để trở thành một chỉnh thể thống nhất. Dự thảo luật quy định "Chiến lược thủy lợi được xây dựng cho chu kỳ 10 năm, tầm nhìn 30 năm hoặc dài hơn, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội và quốc phòng-an ninh". Luật sư Trương Quang Cẩn cũng đề nghị: “Thuỷ lợi là một ngành kỹ thuật cơ sở hạ tầng, vì vậy cần có tầm nhìn từ 50- 100 năm và nên quy định rõ vào trong luật”.

Về nguồn lực đầu tư xây dựng công trình thủy lợi, nhiều ý kiến đều cho rằng, công trình thủy lợi, đặc biệt là những công trình có quy mô lớn đòi hỏi phải có nguồn vốn lớn để xây dựng, quản lý và vận hành. Trong bối cảnh hiện nay do Nhà nước đang rất khó khăn về ngân sách nên việc kêu gọi sự đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi từ mọi nguồn vốn, kể cả nhà đầu tư nước ngoài là cần thiết. Tuy nhiên, theo Luật gia Đỗ Minh Sơn, dự thảo chính sách của nhà nước trong hoạt động thủy lợi chưa làm rõ có hay không việc cho phép các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động đầu tư xây dựng các công trình thủy lợi, cần giới hạn việc gọi vốn đầu tư từ nước ngoài đối với một số công trình thủy lợi nhất định do cấp có thẩm quyền phê duyệt và phải tuân thủ quy trình chặt chẽ hơn so với các nhà đầu tư trong nước.

Nhấn mạnh vai trò quan trọng của nguồn lực đầu tư từ xã hội cho các công trình thủy lợi, GS.TS Phạm Ngọc Quý bày tỏ băn khoăn khi chưa có khoản nào trong dự thảo Luật Thủy lợi đề cập đến xã hội hóa trong đầu tư xây dựng và khai thác công trình thủy lợi. GS.TS Phạm Ngọc Quý đề nghị bổ sung một điều khoản quy định: “Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng công trình thủy lợi có quy mô vừa và nhỏ phù hợp với quy hoạch thủy lợi và tuân thủ các quy định của pháp luật về xây dựng, quản lý và khai thác công trình thủy lợi”.

Về trách nhiệm quản lý nhà nước về thủy lợi, đa số các ý kiến đồng tình với quy định của dự thảo Luật, đặc biệt là trách nhiệm của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với tư cách là cơ quan chủ trì, đầu mối tham mưu giúp Chính phủ quản lý toàn diện, thống nhất về thủy lợi trong đó có các hoạt động thủy lợi. Tuy nhiên, theo luật gia Đỗ Minh Sơn,quy định  “...đình chỉgiấy phép các hoạt động thủy lợi phải có phép trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi” thuộc thẩm quyền của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn vừa không bảo đảm tính kịp thời, tính nghiêm minh của pháp luật khi có hành vi vi phạm xảy ra vì phải chờ Bộ xử lý theo quy trình vừa phức tạp, vừa nặng về thủ tục hành chính. Mặt khác, theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính nếu hành vi vi phạm chưa đến mức phải xử lý về hình sự thì sẽ bị xử lý hành chính (Điều 25) và hình phạt áp dụng là: “Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn” chứ không phải là: “..đình chỉ giấy phép các hoạt động…”; Luật gia Đỗ Minh Sơn cũng đề nghị Ban soạn thảo xem xét lại quy định giao cho Bộ Công thương ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quản lý, vận hành hồ chứa thủy điện, như vậy sẽ dẫn đến tình trạng xả lũ tràn lan như thời gian vừa qua gây nhiều hậu quả, thiệt hại cho người dân, nên đối với loại văn bản quy phạm pháp luật này chỉ Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ mới có thẩm quyền ban hành.

Các ý kiến tại Hội nghị cũng đã góp ý vào nhiều điều, khoản cụ thể của dự thảo Luật. Đồng chí Ngọ Duy Hiểu thay mặt Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tiếp thu toàn bộ các ý kiến đóng góp của các đại biểu tham dự Hội nghị và khẳng định, những kiến nghị này sẽ được Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội tổng hợp trình lên Ủy ban thường vụ Quốc hội để nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung vào các điều, khoản của Luật để trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tới./.

 HOÀI THƯƠNG

Lượt xem: 914

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.