Kết quả hội nghị Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Bắc Bộ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2016-2021 tại tỉnh Nam Định

Trong 02 ngày 25 và 26/8/2016, tại tỉnh Nam Định đã diễn ra hội nghị Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Bắc Bộ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2016-2021. Tới dự và chỉ đạo hội nghị có đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội. Tham dự hội nghị còn có các đồng chí Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội; lãnh đạo một số bộ, ngành Trung ương cùng các Đoàn đại biểu Thường trực HĐND 11 tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Bắc Bộ...

Trong 02 ngày 25 và 26/8/2016, tại tỉnh Nam Định đã diễn ra hội nghị Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Bắc Bộ lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2016-2021. Tới dự và chỉ đạo hội nghị có đồng chí Nguyễn Thị Kim Ngân, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội. Tham dự hội nghị còn có các đồng chí Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội; lãnh đạo một số bộ, ngành Trung ương cùng các Đoàn đại biểu Thường trực HĐND 11 tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Bắc Bộ.

Với chủ đề "Giải pháp để thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015", tổng hợp các các ý kiến tham luận, thảo luận của Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố cho thấy:

Thứ nhất: về hoạt động chất vấn tại kỳ họp HĐND, vấn đề đưa ra chất vấn phải là vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận xã hội, được nhân dân quan tâm, chú ý. Có nhiều nguồn có thể khai thác để thu thập vấn đề cần chất vấn, như qua giám sát, tiếp xúc cử tri hoặc qua thông tin đại chúng. Điều cần thiết là các đại biểu phải chắt lọc, tổng hợp và mạnh dạn chất vấn, bên cạnh đó trách nhiệm của Thường trực HĐND khi chuẩn bị nhóm vấn đề chất vấn và người trả lời chất vấn cũng giúp cho sự thành công của chất vấn. Chủ tọa điều hành cần đảm bảo dân chủ, khoa học, linh hoạt, có thể tham gia chất vấn và dẫn dắt vấn đề thêm sâu sắc, chủ tọa có kết luận về từng vấn đề chất vấn. Sau chất vấn, cần ban hành thông báo kết luận chất vấn. Thường trực HĐND, các Ban, các tổ đại biểu và đại biểu HĐND phải tăng cường theo dõi, đôn đốc, giám sát việc thực hiện những lời hứa của lãnh đạo UBND và các ngành liên quan đến nội dung được kết luận tại phiên chất vấn.

Thứ hai: về xây dựng và triển khai chương trình giám sát chuyên đề của HĐND, của Thường trực HĐND và của các Ban HĐND. Việc lựa chọn chuyên đề giám sát của HĐND, của Thường trực HĐND và các Ban HĐND phải là những vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của địa phương, những vấn đề bức xúc mà cử tri địa phương và dư luận quan tâm. Xây dựng và triển khai chương trình giám sát chuyên đề phải đảm bảo đúng quy định của Luật. Số lượng đối tượng giám sát không cần nhiều mà cần giám sát đúng đối tượng, có tính đặc trưng, đại diện cao, phù hợp với chuyên đề giám sát; chuẩn bị tốt, chu đáo cho thực hiện giám sát chuyên đề, cần có quá trình thu thập hồ sơ, chứng cứ, nghiên cứu tài liệu liên quan đến nội dung giám sát, xây dựng đề cương giám sát nhằm giúp cho thành viên đoàn giám sát xác định rõ mục tiêu, phạm vi và cần tập trung giám sát, định hướng được cho đối tượng giám sát báo cáo phục vụ giám sát đúng nội dung trọng tâm, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu giám sát.

Kết luận giám sát chuyên đề cần được cân nhắc kỹ, chỉ rõ được những hạn chế, thiếu sót, những bất cập trong quá trình tổ chức triển khai các nghị quyết, chính sách, pháp luật và đề xuất hướng giải quyết khả thi, kiến nghị rõ, đúng cơ quan chức năng có trách nhiệm giải quyết, khắc phục.

Thứ ba: Giám sát của Thường trực HĐND đối với việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân và việc thực hiện, giải quyết kiến nghị của cử tri. Tăng cường hơn nữa trách nhiệm của Thường trực HĐND tỉnh trong triển khai hiệu quả Luật Tiếp công dân, Nghị quyết 759 của UBTVQH quy định về hoạt động tiếp công dân của HĐND, đại biểu HĐND.    Thường xuyên kiểm tra, theo dõi, đôn đốc các cơ quan chức năng giải quyết các trường hợp khiếu nại, tố cáo do Thường trực HĐND tỉnh chuyển đến và việc thực hiện công khai hóa kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Tập trung giám sát trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan hành chính các cấp trong việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; đặc biệt coi trọng giám sát đối với các vụ việc khiếu nại, tố cáo của công dân tồn đọng, bức xúc, kéo dài chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa hợp tình hợp lý, vi phạm trình tự, thủ tục, thời hạn giải quyết. Lựa chọn những vấn đề trọng tâm, bức xúc thông qua việc tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân và kiến nghị của cử tri để yêu cầu thủ trưởng các cơ quan có liên quan phải giải trình làm rõ và cam kết tiến độ giải quyết tại hội nghị hằng tháng của Thường trực HĐND          tỉnh. Quan tâm việc xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin trong việc theo dõi, quản lý, giải quyết đơn của công dân, nhằm thông tin kịp thời đến các cơ quan và cá nhân có thẩm quyền về quá trình xử lý và kết quả giải quyết của các cơ quan chức năng, tránh tình trạng chuyển đơn chồng chéo hoặc đã hết thẩm quyền giải quyết.

Quan tâm, kiện toàn và nâng cao chất lượng của bộ phận chuyên trách làm nhiệm vụ tham mưu giúp Thường trực HĐND, đại biểu HĐND trong việc tổ chức tiếp công dân, theo dõi tình hình giải quyết, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân và đôn đốc các cơ quan có thẩm quyền trong việc xem xét, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.

Thứ tư: về việc đào tạo nâng cao kỹ năng hoạt động cho đại biểu HĐND. Tăng cường, đối mới hình thức, nội dung tập huấn, bồi dưỡng nâng cao năng lực của đại biểu; tổ chức tập huấn theo chuyên đề, tổ chức giao ban, hội thảo trao đổi rút kinh nghiệm...cần tập trung bồi dưỡng những vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp luật; về tổ chức và hoạt động của HĐND và UBND; về vai trò, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND, của đại biểu HĐND các cấp, nhất là những kỹ năng có tính đặc thù và cần thiết đối với đại biểu dân cử. Lựa chọn nội dung bồi dưỡng phù hợp với đội ngũ giảng viên, báo cáo viên là người có có chuyên môn sâu, hoặc là người có kinh nghiệm hoạt động tại cơ quan dân cử. Đảm bảo bố trí nguồn kinh phí hàng năm cho công tác đào tạo, tập huấn, tổ chức các hội nghị, hội thảo chuyên đề... để nâng cao trình độ, kỹ năng hoạt động đại biểu HĐND. Đổi mới và tăng cường công tác thông tin phục vụ hoạt động của đại biểu. Thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện cung cấp tài liệu, các văn bản có liên quan, nhất là tài liệu về chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước và thông tin về tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của địa phương. Tạo điều kiện cho đại biểu HĐND trong việc tự học tập, nâng cao trình độ, rèn luyện kỹ năng; nghiên cứu, nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Nghị quyết của HĐND để vận dụng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của đại biểu dân cử.

Thứ năm: về việc kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực tham mưu, giúp việc của Văn phòng HĐND các tỉnh, thành phố. Cần tổ chức thực hiện tốt chủ trương của Đảng, quy định của nhà nước vê việc hoàn thiện hệ thống chính trị, tinh gọn bộ máy các cơ quan nhà nước, trong đó có Văn phòng HĐND cấp tỉnh để tạo ổn định, đồng thuận trước khi thành lập và sáp nhập các phòng chuyên môn theo Nghị định số 48/2016/NĐ-CP ngày 27/5/2016 của Chính phủ.           Phân chia các tổ chuyên môn thuộc Phòng Tổng hợp để đảm bảo tiếp tục duy trì ổn định công tác tham mưu, giúp việc Thường trực, các Ban và Văn phòng HĐND tỉnh; sắp xếp, bố trí cán bộ phù hợp với từng vị trí việc làm, chuyên môn nghiệp vụ và yêu cầu thực tiễn công tác…

Bên cạnh việc chia sẻ kinh nghiệm và giải pháp để thực hiện tốt nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh, Thường trực HĐND các tỉnh, thành trong khu vực đã có một số kiến nghị. Trong đó, đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội: Sớm ban hành Quy chế hoạt động của HĐND (thay cho Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005 đã hết hiệu lực) để đảm bảo sự thống nhất trong thực hiện nhiệm vụ của HĐND các tỉnh, thành phố trên địa bàn toàn quốc. Hướng dẫn HĐND các tỉnh, thành phố trong cả nước thống nhất việc thực hiện các chế độ, định mức chi tiêu tài chính phục vụ hoạt động của HĐND các cấp trong tình hình mới nhằm đảm bảo tương đồng giữa các cơ quan dân cử và phù hợp với quy định.

Đề nghị Chính phủ: Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương, bộ máy tổ chức HĐND có nhiều điểm mới, tập trung vào việc tăng số lượng đại biểu chuyên trách, mở rộng thành phần Thường trực HĐND; nhiều thẩm quyền mới của HĐND đã được bổ sung. Trong khi đó, mô hình Văn phòng HĐND tỉnh được quy định tại Nghị định 48/2016/NĐ-CP ngày 27/5/2016 chỉ có 02 phòng, mỗi phòng có Trưởng phòng và 01 Phó Trưởng phòng chưa thực sự phù hợp và tương xứng với vai trò tham mưu, giúp việc cho HĐND trong tình hình hiện nay. Đề nghị xem xét, sửa đổi Nghị định số 48/2016/NĐ-CP theo hướng Văn phòng HĐND tỉnh ngoài phòng Tổng hợp có thêm các phòng chuyên môn tham mưu, giúp việc, phục vụ hoạt động của HĐND trên các lĩnh vực: Kinh tế - Ngân sách, Văn hóa - Xã hội, Pháp chế. Việc thành lập các phòng trên là hết sức cần thiết, bảo đảm chuyên môn hóa và nâng cao năng lực nghiệp vụ của đội ngũ công chức, chuyên viên Văn phòng để đáp ứng yêu cầu tham mưu, giúp việc, phục vụ các hoạt động của HĐND, Thường trực, các Ban và đại biểu HĐND cấp tỉnh, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương theo quy định mới của pháp luật.

Kết thúc hội nghị, Thường trực HĐND tỉnh Nam Định đã chuyển giao việc đăng cai tổ chức Hội nghị Thường trực HĐND các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Hồng và Duyên hải Bắc Bộ lần thứ hai, nhiệm kỳ 2016-2021 cho Thường trực HĐND tỉnh Quảng Ninh.

Toàn văn thông báo kết luận xem tại đây

 QUỐC THỊNH

Lượt xem: 613

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.