Kết quả khảo sát Việc thực hiện các quy định của pháp luật về đảm bảo môi trường, xử lý chất thải tại các bệnh viện, cơ sở y tế

Đoàn khảo sát đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế: Tại một số cơ sở y tế, hệ thống xử lý nước thải được đầu tư khá lâu và đã xuống cấp, do đó việc xử lý không đạt quy chuẩn về nước thải y tế trước khi thải ra môi trường; việc đầu tư công nghệ, công suất xử lý nước thải tại một số cơ sở y tế còn chưa thực tế, tính hiệu quả chưa cao, công tác bảo trì, bảo dưỡng chưa được quan tâm; chưa có công tơ đo lưu lượng để đo đếm hoặc theo dõi chính xác lượng nước thải y tế...

Thực hiện Kế hoạch hoạt động năm 2014 của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã thành lập và tổ chức Đoàn khảo sát “Việc thực hiện các quy định của pháp luật về đảm bảo môi trường, xử lý chất thải tại các bệnh viện, cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2009 đến năm 2013”

Qua khảo sát cho thấy, tính đến ngày 31/12/2013, tổng số giường bệnh trên địa bàn thành phố Hà Nội có 10.341 giường bệnh; mỗi ngày các cơ sở y tế trong Thành phố phát sinh khoảng hơn 8,07 tấn chất thải y tế, trong đó có khoảng 1,13 tấn chất thải y tế nguy hại (chiếm 14%). Lượng chất thải y tế phát sinh trung bình là 0,78 kg/giường bệnh/ngày, trong đó chất thải nguy hại khoảng 0,11 kg/giường bệnh/ngày. Lượng chất thải y tế nguy hại của các bệnh viện trong Thành phố thay đổi từ 0,005 - 2,232 kg/giường bệnh/ngày tùy từng loại bệnh viện. Riêng năm 2013, lượng chất thải rắn y tế từ hoạt động khám chữa bệnh của 41 bệnh viện công lập, bệnh viện Tư nhân, 45 phòng khám đa khoa khu vực, 4 nhà hộ sinh và các trạm y tế khoảng 7.302 kg chất thải thông thường và 1.373 kg chất thải y tế nguy hại mỗi ngày.

Chất thải y tế cần phải có quy trình xử lý nghiêm ngặt nhằm đảm bảo môi trường (ảnh minh họa)

Theo quy định, chất thải y tế gồm 5 nhóm khác nhau, mỗi nhóm có một quy trình xử lý, tiêu hủy riêng và được phân loại chất thải y tế ngay tại nguồn phát sinh. Qua khảo sát cho thấy việc thu gom chất thải đã được quan tâm thực hiện quy trình từ nơi thải ra đến nơi chứa. Các chất thải y tế được đựng trong túi nhựa các màu theo quy định. Việc vận chuyển chất thải y tế ra ngoài đều được các cơ sở y tế ký hợp đồng dịch vụ vận chuyển và xử lý rác thải y tế và có biên lai xác nhận việc thực hiện từng đợt.

Về công tác xử lý, tiêu hủy chất thải rắn y tế hiện nay, trên địa bàn Thành phố đang có 2 mô hình: Một là, mô hình xử lý tại chỗ, bằng lò đốt (công nghệ Nhật Bản), 18 bệnh viện có hệ thống lò đốt được xây dựng tại bệnh viện, trong đó, 17 công trình đang hoạt động tốt; Hai là, mô hình xử lý tập trung, thuê đơn vị thu gom, vận chuyển và xử lý tập trung tại một nơi khác, có 23 bệnh viện ký hợp đồng với Công ty Môi trường đô thị Hà Nội – UERENCO 10 để đốt bằng lò đốt Celtia 200 và lò đốt rác Del Monego 200. Tuy nhiên, hai hệ thống lò đốt này được đầu tư từ năm 2002 đến nay thiết bị đã cũ và lạc hậu.

Về công tác xử lý chất thải lỏng y tế, lượng nước thải từ hoạt động chuyên môn của 41 bệnh viện công lập, bệnh viện tư nhân, 45 phòng khám đa khoa khu vực, 4 nhà hộ sinh và các trung tâm y tế, trung bình mỗi ngày khoảng 4.569 m3. Trung bình lượng nước thải khoảng 0,4 - 0,6 m3/giường bệnh thực / ngày, phòng khám tư nhân không quá 5 m3/cơ sở/ngày. Các bệnh viện trước khi được cấp phép hoạt động đều được thẩm định có hệ thống xử lý nước thải và đảm bảo đủ tiêu chuẩn về xử lý chất thải lỏng y tế. Các cơ sở đều có hệ thống xử lý nước thải trước khi đưa ra nguồn thải chung, với các mức công nghệ xử lý khác nhau (như Bệnh viện Đa khoa Đống Đa là AAO, Bệnh viện Thanh Trì là V69, Bệnh viện Hồng Ngọc là A20). Đối với các cơ sở y tế công lập, cơ quan có thẩm quyền đã quan tâm đầu tư thiết bị công nghệ xử lý nước thải theo nhu cầu của từng đơn vị; các cơ sở y tế tư nhân cũng căn cứ vào khả năng chuyên môn, khả năng tài chính để có hệ thống phù hợp.

Tính đến hết ngày 31/12/2013 trên địa bàn Thành phố đã có 119 cơ sở y tế đã thực hiện kê khai đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại. Trong đó có 15 bệnh viện thuộc Bộ Y tế; 09 bệnh viện, Trung tâm y tế thuộc Bộ, ngành Trung ương; 29 bệnh viện, trung tâm y tế công lập thuộc sở Y tế Hà Nội; 40 bệnh viện, trung tâm y tế, phòng khám tư nhân thuộc Sở Y tế Hà Nội; 26 cơ sở sản xuất, kinh doanh dược phẩm, viện nghiên cứu, giám định và đã cấp 02 giấy phép hành nghề xử lý chất thải nguy hại cho 02 bệnh viện (Bệnh viện Đa khoa Hà Đông và Bệnh viện Quân y 103).

Về công tác đảm bảo môi trường tại các cơ sở y tế trên địa bàn Thành phố: Thời gian qua đã được quan tâm, thực hiện theo đúng quy định của pháp luật; công tác đảm bảo môi trường đã có chuyển biến tích cực.  

Đoàn khảo sát đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế: Tại một số cơ sở y tế, hệ thống xử lý nước thải được đầu tư khá lâu và đã xuống cấp, do đó việc xử lý không đạt quy chuẩn về nước thải y tế trước khi thải ra môi trường; việc đầu tư công nghệ, công suất xử lý nước thải tại một số cơ sở y tế còn chưa thực tế, tính hiệu quả chưa cao, công tác bảo trì, bảo dưỡng chưa được quan tâm; chưa có công tơ đo lưu lượng để đo đếm hoặc theo dõi chính xác lượng nước thải y tế. Một số đơn vị chưa hoàn thành các thủ tục pháp lý về bảo vệ môi trường và xử lý chất thải y tế: chưa xây dựng đề án bảo vệ môi trường, chưa đăng ký chủ nguồn thải nguy hại, chưa có giấy phép xả thải ra môi trường... Bên cạnh đó, một số thủ tục hành chính chưa phù hợp gây khó khăn, tốn kém về thời gian, kinh phí cho các đơn vị trong quá trình hoàn thiện hồ sơ pháp lý về môi trường: Báo cáo đánh giá tác động môi trường, Bản cam kết bảo vệ môi trường, Bản đăng ký tiêu chuẩn môi trường, Sổ đăng ký chủ nguồn thải nguy hại, Giấy phép xả thải ra môi trường, Quan trắc môi trường...

Bên cạnh đó, các đơn vị gặp nhiều khó khăn khi không có nguồn tài chính đầu tư cho xây dựng hệ thống xử lý nước thải, khu lưu giữ chất thải rắn; kinh phí cho vận hành, duy tu, bảo dưỡng hệ thống xử lý nước thải; kinh phí mua hóa chất, vật tư làm sạch môi trường, kinh phí mua sắm trang thiết bị, phương tiện thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tiêu hủy chất thải rắn y tế. Tại một số đơn vị, công tác quan trắc môi trường chưa thực hiện thường xuyên, có đơn vị chưa đạt tiêu chuẩn xả thải nước thải theo quy định.

Kết thúc khảo sát, Đoàn kiến nghị Chính phủ nghiên cứu, sớm ban hành quy định hỗ trợ các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh kinh phí chi trả cho công tác bảo vệ môi trường và quản lý, thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chất thải y tế.

Đối với Bộ Y tế: Sớm kiểm tra, rà soát, chấn chỉnh công tác thực hiện các quy định của pháp luật về đảm bảo môi trường, xử lý chất thải tại các bệnh viện, cơ sở y tế thuộc Bộ quản lý trên địa bàn thành phố Hà Nội; Đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng các công trình xử lý rác thải, nước thải y tế, bảo vệ môi trường tại các cơ sở, bệnh viện trực thuộc Bộ. Cụ thể, nghiên cứu Quy chế quản lý chất thải y tế ban hành kèm theo Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế để: sửa đổi Khoản 1, Điều 26 cho phù hợp với các quy định hiện hành và nhu cầu thực tế; phối hợp, bổ sung thống nhất cách phân loại chất thải với Thông tư 12/2011/TT-BTNMT, ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại.

Đối với UBND thành phố Hà Nội: Tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật về bảo vệ môi trường, nhất là quy định về bảo vệ môi trường, xử lý chất thải tại các bệnh viện, cơ sở y tế với các đối tượng là y bác sỹ, cán bộ trong ngành, người bệnh và người dân. Kiểm tra, thanh tra thường xuyên, định kỳ, đột xuất; chỉ đạo cơ quan chức năng đẩy nhanh tiến độ các dự án cải tạo, nâng cấp hệ thống xử l‎‎ý chất thải, nước thải tại các bệnh viện, cơ sở y tế trực thuộc Thành phố quản lý; bố trí kinh phí, nhân lực đủ để quản lý chất thải y tế kể cả vận hành hệ thống xử lý nước thải và quản lý, xử lý chất thải y tế nguy hại nhằm đáp ứng tốt công tác bảo vệ môi trường, tạo môi trường xanh, sạch đẹp tại các bệnh viện, cơ sở y tế. Phối hợp cơ quan chức năng kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định pháp luật; năng lực đáp ứng yêu cầu về thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế nguy hại của Công ty URENCO 10. Chỉ đạo cơ quan chức năng hỗ trợ, hướng dẫn các bệnh viện, cơ sở y tế trực thuộc trong việc hoàn thiện các hồ sơ pháp lý về bảo vệ môi trường theo quy định (đặc biệt với Bệnh viện Đa khoa Đống Đa) sớm hoàn thiện các thủ tục, hồ sơ đề nghị chứng nhận hoàn thành xử lý ô nhiễm môi trường theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ...

Toàn văn báo cáo kết quả khảo sát xem tại đây: 

LÊ MINH TÚ

Lượt xem: 835

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Kế hoạch giám sát, kiểm tra công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031

Tin hoạt động - Đoàn ĐBQH 1 ngày trước

Theo nội dung kế hoạch, mục đích của hoạt động giám sát, kiểm tra lần này là nhằm kịp thời nắm bắt tình hình triển khai công tác chuẩn bị bầu cử tại Trung ương và địa phương. Thông qua đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu việc tổ chức bầu cử phải tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật, các nghị quyết và hướng dẫn của Hội đồng bầu cử quốc gia, góp phần đưa sự kiện ngày bầu cử 15/3/2026 thực sự trở thành “Ngày hội lớn của toàn dân”.Công tác giám sát cũng tập trung vào việc phát hiện sớm các khó khăn, vướng mắc để kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn và giải quyết; đồng thời phòng ngừa các sai sót, vi phạm có thể gây ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng cũng như tính minh bạch của cuộc bầu cử. Qua đó, kế hoạch kỳ vọng sẽ tăng cường hơn nữa trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ tham gia công tác bầu cử.Ủy ban Thường vụ Quốc hội xác định nội dung giám sát sẽ bao quát toàn bộ quá trình bầu cử, từ việc triển khai Chỉ thị của Bộ Chính trị, Luật Bầu cử đến các kế hoạch tổ chức cụ thể. Tùy vào tình hình thực tế, các Đoàn giám sát có thể kết hợp kiểm tra tình hình thực hiện Nghị quyết của Quốc hội tại địa phương. Hình thức giám sát được thực hiện đa dạng, bao gồm việc xem xét, cho ý kiến về công tác bầu cử tại các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội định kỳ vào tháng 01, 02 và 03 năm 2026.Đáng chú ý, bên cạnh các đợt giám sát trực tiếp, Hội đồng bầu cử quốc gia cũng sẽ thực hiện giám sát theo chuyên đề, giám sát từ xa thông qua hệ thống công nghệ thông tin phục vụ bầu cử hoặc tổ chức kiểm tra đột xuất khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, khiếu nại, tố cáo.Kế hoạch nêu rõ việc thành lập các Đoàn giám sát do lãnh đạo Quốc hội và các thành viên Hội đồng bầu cử quốc gia làm Trưởng đoàn, dự kiến chia thành 03 đợt cao điểm. Trong đó, đợt I từ ngày 05/01 đến 13/01/2026: Tập trung vào việc chỉ đạo, triển khai công tác bầu cử; thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử; kết quả hội nghị hiệp thương lần thứ nhất và việc giới thiệu người ứng cử. Đợt II từ ngày 04/02 đến 10/02/2026: Chú trọng kiểm tra việc tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ hai; lập danh sách sơ bộ những người ứng cử; việc lập và niêm yết danh sách cử tri cũng như công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo.Đợt III từ ngày 02/3 đến 10/3/2026: Tập trung vào hội nghị hiệp thương lần thứ ba; niêm yết danh sách chính thức người ứng cử; vận động bầu cử; chuẩn bị cơ sở vật chất và các phương án bảo vệ an ninh, an toàn cho ngày bỏ phiếu.Riêng đối với Thủ đô Hà Nội, Đoàn giám sát đợt III sẽ do đồng chí Nguyễn Khắc Định, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Hội đồng bầu cử quốc gia làm Trưởng đoàn để kiểm tra công tác chuẩn bị trước ngày bầu cử.Để đảm bảo thông tin thông suốt, Ủy ban Công tác đại biểu được giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan để tổng hợp kết quả, báo cáo trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng bầu cử quốc gia vào cuối mỗi đợt giám sát. Toàn văn kế hoạch mời xem tại đây