Kinh nghiệm phối hợp hoạt động giữa Ban Kinh tế và Ngân sách với UBND, các cơ quan chuyên môn thuộc UBND

Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật và thực tiễn hoạt động của Ban Kinh tế và Ngân sách HĐND thành phố Hà Nội cho thấy một trong những yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng hoạt động của Ban HĐND trong hoạt động thẩm tra, giám sát, tham mưu cho HĐND quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách đó là hiệu quả công tác phối hợp giữa Ban HĐND với UBND; giữa Ban HĐND với các cơ quan chuyên môn của UBND.

Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Luật và thực tiễn hoạt động của Ban Kinh tế và Ngân sách HĐND thành phố Hà Nội cho thấy một trong những yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng hoạt động của Ban HĐND trong hoạt động thẩm tra, giám sát, tham mưu cho HĐND quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương trong lĩnh vực kinh tế và ngân sách đó là hiệu quả công tác phối hợp giữa Ban HĐND với UBND; giữa Ban HĐND với các cơ quan chuyên môn của UBND.

Câu hỏi đặt ra là làm thế nào để phối hợp hoạt động giữa Ban HĐND và các cơ quan chuyên môn của UBND hiệu quả, chất lượng, không hình thức?

1.Phối hợp trong chuẩn bị chương trình, nội dung các kỳ họp HĐND; trong chuẩn bị tài liệu, trong công tác thẩm tra các nội dung UBND trình tại kỳ họp

Phối hợp trong soạn thảo trình HĐND các nội dung theo Chương trình xây dựng nghị quyết từ đầu năm hoặc theo chương trình kỳ họp đối với những nội dung phát sinh. Sự vào cuộc ngay từ đầu của Ban để cùng nghiên cứu, đưa ra quan điểm, góp ý tổng thể; tính chủ động của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND trong việc gửi dự thảo sớm, cung cấp đủ căn cứ pháp lý, tài liệu thông tin cần thiết… Đối với những nội dung quan trọng, Ban phối hợp với cơ quan chuyên môn thuộc UBND để khảo sát thực tế, tiếp xúc cử tri chuyên đề, phối hợp MTTQ phản biện xã hội…

Đối với nội dung khó, phức tạp (cơ chế chính sách, quy hoạch…), hai cơ quan phối hợp tổ chức họp tập thể Ban nghe cơ quan chuyên môn báo cáo trước để có thông tin và gợi mở một số vấn đề cho cơ quan chuyên môn hoàn thiện dự thảo. Trong phối hợp, cần góp ý trách nhiệm, rõ quan điểm; trong tiếp thu ý kiến góp ý, cần cầu thị lắng nghe và chỉnh sửa, bổ sung nếu ý kiến góp ý đúng, hợp lý. 

Trong thẩm tra báo cáo, tờ trình, dự thảo Nghị quyết HĐND: Các cơ quan phối hợp cần đảm bảo quy trình, trình tự, thủ tục, nguyên tắc thẩm tra. Đảm bảo về thời gian gửi tài liệu phục vụ thẩm tra; bố trí các thành phần dự họp thẩm tra, các hồ sơ tài liệu liên quan theo quy định của Luật và các tài liệu khác nếu cần thiết. Trong báo cáo thẩm tra, Ban đều thể hiện rõ quan điểm đối với UBND về nội dung đồng ý, nội dung đề nghị điều chỉnh, bổ sung, nội dung không đồng ý và lý do đề nghị điều chỉnh, bổ sung và lý do không đồng ý. Đối với các nội dung không được tiếp thu, Ban tiếp tục có ý kiến báo cáo HĐND. Trong quá trình chuẩn bị, có thể có những nội dung đã dự kiến trình ra kỳ họp nhưng qua giám sát, thẩm tra của các Ban HĐND thấy công tác chuẩn bị của các cơ quan chuẩn bị chưa đảm bảo chất lượng, chưa chu đáo thì Ban tham mưu Thường trực HĐND có ý kiến với UBND tại cuộc họp rà soát nội dung trước khi diễn ra kỳ họp, yêu cầu các cơ quan phải chuẩn bị lại hoặc hoãn chưa đưa ra kỳ họp; đối với những nội dung phức tạp đã thống nhất trình kỳ họp, hai cơ quan đều có trách nhiệm phối hợp chuẩn bị kỹ các thông tin, định hướng cho đại biểu HĐND thảo luận, quyết định.

2. Phối hợp trong công tác khảo sát, giám sát của Ban đối các cơ quan chuyên môn thuộc UBND

Để công tác khảo sát, giám sát của Ban đạt kết quả tốt, ngoài công tác chuẩn bị tốt của Ban, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND. Việc phối hợp được thực hiện xuyên suốt các giai đoạn trước, trong và sau đợt giám sát, khảo sát.

- Phối hợp trong xây dựng kế hoạch giám sát, khảo sát (xác định nội dung, phạm vi, lựa chọn thời gian, địa điểm, đối tượng phù hợp….).

- Phối hợp chuẩn bị giám sát, khảo sát: Cử cán bộ đầu mối liên hệ, hướng dẫn báo cáo theo đề cương, đôn đốc nộp báo cáo, đề nghị hoàn thiện báo cáo khi chưa đạt yêu cầu. Phối hợp chuẩn bị nội dung, chương trình buổi làm việc; thông báo, đôn đốc đại diện các đơn vị tham dự đầy đủ, đúng thành phần.

- Phối hợp trong thời gian giám sát, khảo sát: Yêu cầu người được cử đại diện cơ quan chuyên môn tham dự giám sát phải nắm chắc quy định, tình hình thực tiễn để có ý kiến trao đổi với đơn vị giám sát; giải trình, cung cấp thông tin với Đoàn khảo sát, giám sát những nội dung Đoàn quan tâm; phối hợp tập hợp các kiến nghị, kết luận của Đoàn tại từng đơn vị làm việc để chuẩn bị giải trình, báo cáo bổ sung nếu cần.

- Phối hợp sau khảo sát, giám sát: Ban gửi báo cáo kết quả giám sát, khảo sát; phối hợp phân công cán bộ theo dõi, đôn đốc thực hiện các kết luận, kiến nghị khảo sát, giám sát; phối hợp gửi các văn bản, báo cáo tiến độ triển khai thực hiện các kết luận, kiến nghị khảo sát, giám sát… Kết thúc đợt khảo sát, giám sát, Ban gửi dự thảo báo cáo, thông báo kết luận cho cơ quan chuyên môn để cùng thống nhất nội dung nhằm đảm bảo chất lượng của báo cáo, song vẫn phải đảm bảo tính trung thực, khách quan, chính xác của giám sát, khảo sát. Khi phát hành báo cáo kết quả khảo sát, giám sát, ngoài gửi cho đối tượng trực tiếp giám sát, còn được Ban gửi cho các cơ quan ký kết quy chế phối hợp với Ban để có thêm thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ, cũng như thực hiện các kết luận khảo sát, giám sát.

3. Phối hợp trong công tác tham mưu xử lý các công việc phát sinh giữa hai kỳ họp HĐND theo nhiệm vụ được giao

Theo quy định của Luật, HĐND họp thường kỳ 02 lần/năm, trong khi các nhiệm vụ quan trọng, đột xuất phát sinh cần xử lý giữa hai kỳ họp. Để đảm bảo giải quyết kịp thời những nội dung phát sinh giữa hai kỳ họp thuộc thẩm quyền HĐND, Thường trực HĐND, việc tham mưu của bộ phận chuyên trách Ban là rất quan trọng. Để tham mưu tốt, Ban cần phối hợp chặt chẽ với cơ quan chuyên môn thuộc UBND chủ trì chuẩn bị nội dung trình và các cơ quan liên quan cũng như các Ban HĐND để có đủ thông tin đề xuất, tham mưu.

Khi Ban Kinh tế và Ngân sách tham mưu cho Thường trực HĐND những nội dung phát sinh giữa hai kỳ họp thông thường giao cho cán bộ giúp việc Ban phối hợp với đơn vị trình tập hợp hồ sơ, tham mưu nội dung, quan điểm trả lời UBND. Những nội dung có tính chất phức tạp, có ý kiến khác nhau, tập thể chuyên trách Ban sẽ phối hợp lãnh đạo cơ quan chuyên môn thuộc UBND và với UBND để họp bàn, làm rõ căn cứ để có thêm thông tin tham mưu cho Thường trực HĐND. Trường hợp cần thiết phải bổ sung hồ sơ hoặc nếu quan điểm Ban không thống nhất cũng cần báo cáo rõ lý do để Thường trực HĐND xem xét, có ý kiến trả lời UBND, các cơ quan chuyên môn biết, rút kinh nghiệm nếu cần thiết. Trường hợp có nội dung gấp, cơ quan chuyên môn có thể gửi trước tài liệu để ban phân công cán bộ biết, rút ngắn thời gian nghiên cứu hồ sơ, kịp thời tham mưu khi có hồ sơ chính thức.

Bên cạnh đó, cần tăng cường, phối hợp chặt chẽ giữa Ban với các cơ quan chuyên môn và UBND trong xây dựng chương trình, kế hoạch công tác; tổ chức ký kết Quy chế phi hợp giữa các đơn vị đảm bảo thiết thực, hiệu quả…

Vũ Thảo

Lượt xem: 547

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.