Kỹ năng thu thập, xử lý thông tin, lựa chọn nội dung và xây dựng kế hoạch giám sát - kinh nghiệm từ hoạt động của HĐND thành phố Hà Nội

Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND là một trong hai chức năng cơ bản của HĐND, thực hiện tốt chức năng giám sát sẽ giúp cho HĐND nắm vững tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương và những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết để xem xét, quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh, thành phố.

Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND là một trong hai chức năng cơ bản của HĐND, thực hiện tốt chức năng giám sát sẽ giúp cho HĐND nắm vững tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương và những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết để xem xét, quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp tỉnh, thành phố.

Hoạt động giám sát của HĐND có nhiều hình thức, phương thức, thông qua nhiều chủ thể, trong đó có giám sát tại các kỳ họp và giám sát giữa các kỳ họp, có giám sát của HĐND, của Thường trực HĐND, các Ban , các tổ đại biểu và các đại biểu HĐND. Dù dưới hình thức, phương thức nào thì công tác thu thập, xử lý thông tin, lựa chọn nội dung và xây dựng kế hoạch giám sát là khâu đầu tiên của quy trình giám sát và có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giám sát của HĐND.

Thu thập thông tin chính xác sẽ giúp cho việc lựa chọn nội dung giám sát vừa bao quát, vừa có trọng tâm, trọng điểm, đúng, trúng, sát thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, mong muốn của cử tri, đồng thời cũng giúp cho việc xây dựng kế hoạch giám sát một cách hợp lý, khoa học, hiệu quả. Ngược lại nếu không có thông tin hoặc thông tin không đầy đủ, thiếu chính xác sẽ có những tác động, ảnh hưởng đến kết quả giám sát, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND.

Xác định rõ vai trò quan trọng của thông tin đối với hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND thành phố Hà Nội đã luôn coi trọng và chỉ đạo làm tốt công tác thu thập, xử lý thông tin phục vụ cho hoạt động giám sát của HĐND. Theo đó, đã phân công cán bộ, chuyên viên theo dõi quận, huyện và yêu cầu phải thường xuyên nắm bắt tình hình chung của các quận, huyện và hoạt động của tổ đại biểu HĐND Thành phố, tình hình hoạt động của HĐND các cấp ở địa phương; thường xuyên báo cáo, phản ánh về Thường trực HĐND Thành phố thông qua giao ban tuần, tháng. Tổng hợp thông tin từ các báo cáo của UBND Thành phố, các sở, ngành, quận, huyện, các đơn vị khác trên địa bàn. Tổng hợp thông tin từ hoạt động  giám sát của Thường trực, các Ban, các tổ đại biểu HĐND. Tập hợp thông tin qua công tác tiếp dân để nắm tình hình phản ánh, tình hình giải quyết các đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; tổng hợp các ý kiến kiến nghị của nhân dân, của cử tri qua các cuộc tiếp xúc cử tri theo định kỳ trước và sau các kỳ họp HĐND. Tập hợp và tổng hợp các thông tin từ báo chí và các cơ quan thông tấn; tổ chức các hoạt động khảo sát thực tiến để có thêm thông tin và phục vụ việc xác minh các thông tin đã tập hợp được...

Các thông tin thu thập được tổng hợp, kết nối với  nhau để rút ra những điểm quan trọng, những vấn đề nổi cộm được dư luận quan tâm. Bên cạnh đó, HĐND thành phố Hà Nội đặc biệt quan tâm đến những thông tin phản hồi của nhân dân, cử tri hoặc của dư luận quần chúng, của các cơ quan quản lý hay của các tổ chức được giao  thực hiện đối với các chính sách, biện pháp mà HĐND đã quyết nghị và đối với những ý kiến UBND trả lời kiến nghị của cử tri.

Trên cơ sở hệ thống thông tin nhiều chiều, đa dạng, phong phú nhưng có trọng tâm, trọng điểm đã giúp cho HĐND Thành phố chọn trúng và đúng nội dung giám sát, là một nhân tố nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND. Cụ thể, đối với lựa chọn nội dung Chương trình giám sát hàng năm, hàng quý, hàng tháng được căn cứ trên quyết định của HĐND Thành phố tại kỳ họp cuối năm ban hành Nghị quyết về chương trình giám sát; cụ thể hóa lựa chọn nội dung, cái gì Thường trực giám sát, cái gì các Ban và các tổ đại biểu giám sát, sao cho các nội dung giám sát của Thường trực và các Ban tập trung thực hiện và bao quát hết Chương trình giám sát năm mà HĐND đã quyết nghị, đồng thời không chồng chéo, trùng lắp các hoạt động giám sát của Thường trực, các Ban, các tổ đại biểu. Có sự phối hợp, kết nối giữa các hình thức giám sát (giám sát chung và giám sát theo chuyên đề; giám sát tại kỳ họp với giám sát giữa 2 kỳ họp); phối hợp giữa các chủ thể giám sát để phát huy hiệu lực và hiệu quả của giám sát, trong đó đẩy mạnh lựa chọn vấn mà Thường trực, các Ban, Tổ đại biểu HĐND Thành phố đã tiến hành giám sát, phát hiện những vướng mắc, bức xúc cần tháo gỡ để đưa ra thảo luận hay chất vấn tại kỳ họp HĐND.

          Thực hiện Chương trình giám sát năm của HĐND và và kế hoạch giám sát năm, hàng quý, tháng của Thường trực và các Ban HĐND, đối với mỗi cuộc giám sát cụ thể được xây dựng kế hoạch tỷ mỷ, cụ thể, nhất là các cuộc giám sát của Thường trực HĐND. Khi xây dựng kế hoạch giám sát cụ thể của các cuộc giám sát, tập trung quan tâm đến: Xác định nội dung cụ thể của cuộc giám sát; mục đích, yêu cầu; thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc cuộc giám sát; phạm vi, đối tượng giám sát; thành phần đoàn giám sát; các tài liệu, báo cáo theo yêu cầu...

                 Kế hoạch giám sát này nhất thiết phải được chuyển tới các cơ quan thuộc đối tượng giám sát và các bên có liên quan theo quy định.

Việc chuẩn bị chu đáo về thông tin phục vụ cho đoàn giám sát là rất cần thiết. Căn cứ vào nội dung và kế hoạch giám sát, cần phải tập hợp thông tin, tư liệu, tài liệu có liên quan, kể cả những văn bản quy phạm pháp luật để cung cấp cho đoàn giám sát. Báo cáo của các đơn vị chịu sự giám sát phải được gửi đến cho các thành viên đoàn giám sát nghiên cứu trước khi xuống giám sát.

Trong quá trình giám sát, việc thu thập, xử lý thông tin, thực hiện kế hoạch giám sát được thực hiện bằng phương thức kết hợp giữa việc nghe cơ quan, tổ chức, đơn vị cơ sở báo cáo với khảo sát thực tế; kết hợp giữa giám sát trực tiếp với giám sát qua văn bản.

Với cách làm trên, trong năm 2011 ngoài việc HĐND Thành phố thực hiện nội dung giám sát tại các kỳ họp, Thường trực HĐND thành phố Hà Nội đã tổ chức tốt 3 đợt giám sát chuyên đề về tình hình triển khai thực hiện cuộc bầu cử đại biểu đaị biểu Quốc hội khoá XIII, bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011- 2016; tình hình giải quyết kiến nghị của cử tri với kỳ họp thứ 22 HĐND, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo tồn đọng kéo dài của công dân theo Nghị quyết số 22/2009/HĐND của HĐND Thành phố; tình hình, kết quả thực hiện nhiệm vụ và các giải pháp phát triển kinh tế, xã hội năm 2011

Trong 8 tháng đầu năm 2012, HĐND thành phố Hà Nội tiếp tục tổ chức nhiều đoàn giám sát, trong đó Thường trực HĐND tổ chức 03 đoàn giám sát chuyên đề về tình hình triển khai nghị quyết HĐND Thành phố về nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, dự toán ngân sách năm 2012; Giám sát tình hình thực hiện Nghị quyết HĐND Thành phố về xã hội hóa y tế, giáo dục và đào tạo  và giám sát về tình hình quản lý, sử dụng đất đai, tài sản công. 

Qua giám sát, Thường trực HĐND Thành phố đã khẳng định rõ kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân; kiến nghị với các cơ quan, đơn vị có liên quan nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn, khắc phục tồn tại trong công tác giải quyết đơn, thư khiếu nại tố cáo tồn đọng của công dân, giải quyết kiến nghị của cử tri; đẩy nhanh tiến độ bán nhà theo Nghị định 61/CP của Chính phủ; tăng cường công tác quản lý nhà chung cư, quản lý chất lượng nhà tái định cư, cải tạo chung cư cũ xuống cấp trên địa bàn; tăng cường kiểm tra, rà soát, phân loại, xử lý đối với các dự án nợ đọng tiền sử dụng đất; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn XDCB cho các công trình dân sinh, bức xúc; quyết toán công trình hoàn thành, thu hồi vốn tạm ứng, hạn chế chuyển nguồn và kết dư ngân sách; tăng cường công tác kiểm tra, xử lý vi phạm Luật đất đai, thu hồi đất của dự án chậm triển khai, đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất....

 

Lượt xem: 546

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.