Làm thế nào để hoạt động giám sát của HĐND đạt hiệu qủa

Trong nửa đầu nhiệm kỳ 2011-2016 vừa qua, HĐND Thành phố đã tổ chức hàng chục cuộc giám sát trực tiếp trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, các vấn đề bức xúc tại địa phương; bên cạnh đó, các kỳ họp đều giành cho hoạt động chất vấn của đại biểu. Hoạt động giám sát của HĐND TP đã đạt được nhiều kết quả góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô.

Giám sát là một trong hai chức năng chủ yếu của Hội đồng nhân dân. Trong nửa đầu nhiệm kỳ 2011-2016 vừa qua, HĐND Thành phố đã tổ chức hàng chục cuộc giám sát trực tiếp trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, các vấn đề bức xúc tại địa phương; bên cạnh đó, các kỳ họp đều giành cho hoạt động chất vấn của đại biểu. Hoạt động giám sát của HĐND Thành phố đã đạt được nhiều kết quả góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô.

Để giám sát của HĐND trong thời gian tới đạt hiệu quả tốt hơn, từ thực tiễn xin đưa ra một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, phải hiểu cho sâu sắc giám sát và quyết định là hai chức năng chủ yếu, quan trọng nhất của HĐND; bổ trợ cho nhau; giám sát tốt cũng là để có quyết định đúng pháp luật, khả thi. Giám sát là biện pháp đánh giá việc thực thi pháp luật, thực thi Nghị quyết của HĐND. Bởi vậy muốn giám sát cần xác định rõ:  Phạm vi, đối tượng giám sát thuộc thẩm quyền của HĐND, Đại biểu HĐND, Thường trực HĐND và các Ban HĐND? Mục đích giám sát để làm gì? Các hình thức giám sát ? Vận dụng hình thức giám sát thế nào cho phù hợp từng lĩnh vực, đối tượng, thời gian? Quy trình lựa chọn và thực hiện giám sát bằng hình thức chất vấn, giám sát bằng hình thức thành lập Đoàn; Giám sát gián tiếp thông qua báo cáo; TXCT, tiếp công dân; giám sát thường xuyên và đột xuất được thực hiện thế nào?

Giám sát là hành vi thể hiện quyền lực của nhân dân. HĐND là cơ quan dân cử - độc lập về vị thế, tổ chức với cơ quan chấp hành và sử dụng quyền lực và nguồn tin công cộng (ý kiến cử tri, công luận) độc lập với cơ quan chấp hành. Do đó hoạt động giám sát của HĐND cần giữ vị thế khách quan và có tiêu chí hướng tới mục đích đã đề ra khi hoạch định chính sách. Việc này hỗ trợ cơ quan chấp hành nhiều hơn là "kiềm chế" họ, cản trở sáng tạo của họ. Trên thực tế, thời gian thảo luận chính sách rất hạn hẹp dẫn đến việc HĐND chỉ chú ý tới các đề xuất cụ thể hoặc con số mà ít chú ý tới chính sách và mục đích, tiêu chí thành công của chính sách. Vị thế khách quan sẽ bị giảm sút, khi các đại biểu can thiệp sâu vào quá trình triển khai thực hiện công việc.

Phải phân biệt cho đúng thế nào là giám sát và thế nào là kiểm tra.Hiện nay nhiều nơi một số đại biểu HĐND coi giám sát như là kiểm tra, tức là phải bám vào việc cụ thể  hàng ngày của UBND, do đó họ tham gia quá sâu vào công việc hành chính thường nhật, ví dụ can thiệp bố trí nhân lực, ngân sách cụ thể cho những hoạt động thực thi. Điều này có thể làm giảm tác dụng giám sát, gây cảm giác không tin cậy và chồng chéo chức năng với nhân viên của cơ quan chấp hành. Điều cần lưu ý ở đây, là đại biểu dân cử không nên tham gia quá sâu vào công việc hành chính thường nhật. Hai vấn đề lớn nhất mà người giám sát thường gặp là tham gia quá sâu và tham gia chưa đầy đủ. Nếu tham gia quá sâu sẽ làm giảm thẩm quyền và trách nhiệm đơn vị thực thi chính sách. Tham gia chưa đầy đủ lại bị nhìn nhận là trốn tránh trách nhiệm. Cả hai thái cực hành vi này đều làm cản trở tiến trình thực hiện công việc.

Thứ hai, phải xác định giám sát là việc đánh giá tính hiệu quả và hiệu năng hoạt động của chính quyền địa phươngDó đó trước khi tổ chức giám sát cần có thông tin kip thời và xác thực. Xác định trúng và đúng vấn đề cần giám sát.  Hiệu quả là làm một việc đúng, và đồng thời làm việc đó theo đúng cách thức, có năng suất. Như vậy, để hoạt động có hiệu quả thì đại biểu dân cử không những chỉ biết chọn đúng việc để quyết mà còn phải cân nhắc quyết định cả cách làm đúng, chi phí thời gian, tiền bạc và nhân lực hợp lý để đạt mục đích của chính sách dự án đã quyết định. Tương tự như vậy, cơ quan chấp hành không những chỉ quan tâm tới việc thực hiện đúng "việc" đã được HĐND "quyết" mà cũng phải thường xuyên kiểm tra xem các biện pháp tổ chức thực thi có được làm đúng cách thức, tiêu chuẩn, chế độ, có hướng tới mục đích hay không?

Kinh nghiệm từ những cuộc giám sát thành công cho thấy, để giám sát đạt hiệu quả cao thì việc thu thập thông tin là rất cần thiết. Các cuộc giám sát thành công đều bắt đầu từ việc nắm chắc thông tin và các quy định của pháp luật. Tuy nhiên, để thực hiện tốt điều này, đại biểu phải biết lắng nghe thông tin từ phía cử tri và phân tích, đánh giá tính chính xác thông tin, đồng thời đối chiếu với các quy định pháp luật để xem xét vấn đề một cách toàn diện trước khi kết luận. Để giúp đại biểu có thể thu thập và xử lý thông tin, đáp ứng yêu cầu giám sát, các đại biểu cần được tập huấn thường xuyên hơn về công tác này. Bản thân mỗi đại biểu cũng cần trau dồi kiến thức, nâng cao hiểu biết về pháp luật.

Ví dụ khi giám sát việc thực hiện chương trình và chính sách là một quá trình nghiêm ngặt hơn. Người giám sát hiệu quả cần có một hệ thống công cụ quản lý, theo dõi để giám sát công việc. Có một số người chỉ tập trung vào công cụ quản lý là dữ liệu (số lượng) mà lại không lượng hóa được tiêu chí chất lượng; ví dụ quan tâm đến số vốn cho vay xóa đói giảm nghèo mà chưa quan tâm lắm tới tiêu chí đánh giá chỉ số hiệu quả dùng vốn như thế nào. Là người giám sát, người đại biểu cần xác định các dữ liệu và thông tin, tiêu chí đánh giá cần thiết để giám sát tiến trình thực hiện chính sách hoặc chương trình; cố gắng bỏ sang bên cạnh những yếu tố chính trị và quản lý để tập trung vào dữ liệu và tiêu chí cụ thể để đánh giá có đạt kết quả hay không…

Thời gian của hoạt động giám sát của HĐND không nhiều, trong khi đó hoạt động của chính quyền có rất nhiều nội dung, tập trung giám sát tất cả là điều không thể đối với HĐND và cách làm đó không hiệu quả. Vì vậy, xác định thứ tự ưu tiên giám sát, chọn đúng và trúng để định rõ nội dung cần giám sát, quy mô giám sát là rất quan trọng.  HĐND phải biết chọn đúng việc, sử dụng các công cụ thích hợp theo chức năng, vai trò của mình; phải tổ chức hoạt động giám sát để phát huy tiếng nói đại diện và vị thế độc lập để việc giám sát có ý nghĩa tác động tích cực tới hoạt động hoạch định chính sách và hỗ trợ hiệu quả hoạt động của cơ quan chấp hành. Do đó, nếu không biết chọn trọng tâm mà chỉ dàn trải các hoạt động giám sát về bề mặt sẽ dẫn đến tình trạng “nói để làm ví dụ răn đe”, thiếu tính xây dựng, không làm cơ quan chấp hành hợp tác để đạt mục đích chung tốt hơn.

Tuy nhiên, có một thực tế trong việc công, nhiều khi các lợi ích đan xen, xung đột với nhau nên khó xác định ưu tiên. Những cải cách tạo ra động lực cho hệ thống thì nên tập trung giám sát, chẳng hạn: Việc phân cấp, phân quyền; Tài chính công tương ứng với việc phân cấp, phân quyền; Thăm dò ý kiến nhân dân; Chính sách một cửa; Việc quản lý đất đai; Phòng chống tham nhũng... Cần lựa chọn những vấn đề mà đa số cử tri quan tâm, cụ thể là những chương trình, dự án có ảnh hưởng đến quyền lợi của nhân dân; Các vấn đề liên quan đến cải cách thủ tục hành chính, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước…Với từng nội dung giám sát, Đoàn giám sát cũng phải đưa ra những yêu cầu cụ thể, ví dụ: Đã làm được gì? Chưa làm được gì? Tại sao? Ai chịu trách nhiệm? v.v…

Thứ ba, trong giám sát phải xác định rõ trách nhiệm và phân công cụ thể việc cho đại biểu là thành viên. Đồng thời cần chú trọng công tác phối hợp, hợp tác trong quá trình giám sát. Hiện nay, số đại biểu chuyên trách của HĐND thành phố là 13/95 người, chiếm 14,5%; ở cấp huyện mới chỉ có từ 2 đến 5 đại biểu chuyên trách. Khi thành lập Đoàn giám sát của Thường trực hay của các Ban HĐND vẫn phải mời thêm một số đại biểu kiêm nhiệm và các chuyên gia tùy theo từng lĩnh vực. Tuy nhiên, trách nhiệm chính vẫn thường phó thác cho một đại biểu chuyên trách, được coi là “có thời gian nghiên cứu; có kiến thức chuyên môn” trong một số lĩnh vực cụ thể, hoặc giao cho những chuyên gia thường quan tâm các công việc sự điều hành của cơ quan chấp hành. Nhiều Đoàn giám sát để chạy việc, cho đảm bảo chương trình nghị quyết về giám sát, khi thành lập Đoàn giám sát thường mời đại biểu tham gia cho đủ đội hình sẽ dẫn đến hoạt động giám sát mang tính hình thức hoặc phó thác cho một số ít đại biểu chuyên trách trong hội đồng.

Xu hướng này cần tránh bởi vì hoạt động giám sát của HĐND là một công cụ quyền lực mang tính chất tập thể và do đó  phải được tất cả các thành viên trong hội đồng tham gia đều tay; và nên chú trọng mời các chuyên gia thuộc các lĩnh vực chuyên sâu tham gia Đoàn giám sát. Trách nhiệm giám sát rất quan trọng nên không thể giao cho một vài đại biểu hay “chuyên gia” trong một lĩnh vực cụ thể, hoặc những người chỉ muốn giám sát các hoạt động bề nổi, mà cần phải được tất cả các thành viên trong HĐND ủng hộ. Đại biểu HĐND khi giám sát luôn biết rằng xung đột là điều tất yếu, nhất là đối với những chính sách và ý tưởng mới. Với nhận thức như vậy, thì sự bất đồng hoặc hiểu khác nhau khi thực thi là một dấu hiệu lành mạnh chỉ ra rằng, công việc đang tiến triển và mọi người đang tiếp cận theo các lựa chọn thực tế khác nhau. Chính vì nó tất yếu, nên người đại biểu dân cử trong vai trò giám sát phải dự liệu trước cách thức quản lý xung đột để giúp cơ quan chấp hành tự giải quyết xung đột …

Giữa cơ quan dân cử với cơ quan hành chính thực hiện có sự phụ thuộc lẫn nhau, cần phối hợp để nâng cao hiệu quả của chính quyền. Giữa cơ quan dân cử và các đoàn thể chính trị xã hội cũng cần phải có sự phối hợp thường xuyên, trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được giao và trên cơ sở sự lãnh đạo của cấp ủy địa phương. Với HĐND và UBND là hai trong một thực thể thống  nhất là: Chính quyền địa phương; tuy nhiên hai cơ quan hoàn toàn độc lập về chức năng. Được trao quyền giám sát, đại biểu HĐND hãy đừng ngạc nhiên quá mức và đừng quá mất thời gian tranh cãi về các quan điểm khác nhau có thể xảy ra trong cách tiếp cận thực hiện chính sách giữa HĐND và UBND, hãy chủ động thương thuyết tháo gỡ các cản trở tiến trình thực hiện chính sách đó.

Thứ tư, để giám sát có hiệu quả Thường trực HĐND phải phát huy được vị trí, vai trò là trung tâm chỉ đạo điều hành phối hợp. Trong giám sát cần có phối hợp giữa Thường trực với các ban HĐND và giữa các ban HĐND với nhau. Luật tổ chức HĐND và UBND, Quy chế hoạt động của HĐND không quy định cụ thể về vấn đề này mà chỉ quy định về việc hàng quý, Thường trực HĐND tổ chức họp với Trưởng ban, Phó trưởng ban để phối hợp hoạt động giám sát, đánh giá về tình hình và kết quả hoạt động giám sát (khoản 4, điều 63 Quy chế hoạt động của HĐND). Thực tiễn đòi hỏi ngoài trách nhiệm chủ trì điều hành thì chính Thường trực cũng cần có sự phối hợp với các Ban HĐND.

Đối với các Ban HĐND, theo quy định các Ban có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, nhưng khi tiến hành hoạt động giám sát chuyên đề lại có những vấn đề liên quan và cần thiết phải phối hợp với nhau. Ví dụ, giám sát việc thực hiện Nghị quyết về chương trình xây dựng nông thôn mới là lĩnh vực của Ban Kinh tế và Ngân sách chủ trì, nhưng trong 19 tiêu chí, có tiêu chi thuộc lĩnh vực chuyên sâu của Ban Văn hóa - Xã hội và Ban Pháp chế. Nếu các ban HĐND tăng cường sự phối hợp thì cuộc giám sát mới đạt kết quả toàn diện. Hoặc giám sát thực hiện việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai, cùng với Ban Pháp chế giám sát việc thi hành pháp luật thì Ban Kinh tế và Ngân sách cũng có trách nhiệm phối hợp vì lĩnh vực giám sát liên quan đến tài nguyên, nằm trong nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Kinh tế và Ngân sách...

Cuối cùng, phải rất lưu ý giám sát việc thực hiện kết luận sau giám sát và nếu xét thấy cần thiết thì phải tái giám sát.  Hầu hết các trường hợp giám sát hiệu quả của một chính sách đều phải giám sát hiệu quả thực tế trong quá trình thực hiện (giám sát sau quyết định); nhưng rồi kết quả giám sát này lại trực tiếp phục vụ hình thành quyết định mới. Hiệu quả của chính sách khó đánh giá hơn, vì nó liên quan tới việc đánh giá xem nhà hoạch định chính sách lựa chọn phù hợp với nhu cầu thực tế trong điều kiện các nguồn lực khan hiếm hay không. Để có kết luận sau giám sát là cả một quá trình xem xét, đối chiếu, tư duy từ quy định của pháp luật đến thực tế của địa phương. Nếu kết luận sau giám sát không được thực hiện nghiêm túc, có nghĩa là: Tính quyền lực của cơ quan dân cử bị xem nhẹ… Nếu cứ để tình trạng này xảy ra, nhân dân sẽ không còn đặt niềm tin vào cơ quan đại diện cho mình nữa. Bời vậy, kết luận giám sát phải làm sao cho đối tượng được giám sát “Tâm phục, khẩu phục”; sau giám sát phải đôn đốc thực hiện các kết luận; khi xét thấy cần thiết thì tái giám sát. Đây cũng là việc bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh. Đây cũng là việc nâng cao uy tín, vị thế của HĐND nói riêng và của chính quyền địa phương./.

NGUYỄN XUÂN DIÊN

Lượt xem: 1002

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.