Lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi): Cần xem xét đối tượng dự án cần tham vấn cộng đồng

Sáng ngày 3 tháng 4 năm 2014, Đoàn ĐBQH TP đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi). Đồng chí Nguyễn Thị Hồng Hà, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc Hội thành phố Hà Nội chủ trì Hội nghị.

Sáng ngày 3 tháng 4 năm 2014, Đoàn ĐBQH TP đã tổ chức Hội nghị lấy ý kiến góp ý vào Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi). Đồng chí Nguyễn Thị Hồng Hà, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc Hội thành phố Hà Nội chủ trì Hội nghị.

Đa số các đại biểu nhất trí với phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng việc cần thiết phải ban hành Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi). Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng kỳ quy hoạch bảo vệ môi trường 20 năm tại khoản 2, Điều 8 là quá dài khó có thể dự báo, chỉ nên quy định 10 năm khoảng thời gian phù hợp với chu kỳ phát triển kinh tế - xã hội của một vùng, khu vực. Nên lồng ghép quy hoạch bảo vệ môi trường trong các quy hoạch khác của địa phương và cả nước. Đối với trách nhiệm của cơ quan nhà nước, các đại biểu cho rằng việc cần thiết quy định thành lập đoàn tra chuyên ngành để tăng cường công tác thanh kiểm tra đối với việc bảo vệ môi trường vì hiện nay lực lượng thanh tra của các Sở Tài nguyên và Môi trường còn mỏng không đáp ứng được nhu cầu bức thiết công việc đặt ra.

Các đại biểu góp ý kiến vào Dự thảo Luật (ảnh VOV New)

Ông Phạm Văn Khánh, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội thì cho rằng, tại Điểm a, Khoản 4, Điều 20 quy định Chủ dự án phải lập lại báo cáo đánh giá tác động môi trường trong các trường hợp: “Không triển khai dự án trong thời gian ba mươi sáu (36) tháng, kể từ thời điểm quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường” là chưa phù hợp và nên sửa thành: “Không khởi công xây dựng dự án trong thời hạn (36) tháng, kể từ thời điểm có quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường”. Đồng thời tại Điều 22. Đề nghị Ban soạn thảo cần xem xét để có quy định phù hợp với đối tượng dự án phải thực hiện tham vấn cộng đồng đảm bảo được tính khách quan, công khai trong quá trình tham vấn. Vì trên thực tế hiện nay việc thực hiện thủ tục này là quá phức tạp nên sẽ kéo dài thời gian chuẩn bị đầu tư của dự án và có thể gây khó khăn cho quá trình triển khai dự án khi ý kiến người dân không thống nhất. Đặc biệt là việc quy định thực hiện này cũng hết sức cần thiết cho một số loại hình dự án có nguy cơ tác động trên phạm vi rộng lớn, tiền ẩn nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường. Do vậy Ban soạn thảo nên nghiên cứu để có quy định đối với dự án thuộc lĩnh vực cụ thể nào thì cần phải thực hiện trình tự này.

Tại Khoản 2, Điều 23 dự thảo quy định về điều kiện của tổ chức thực hiện đánh giá tác động môi trường là phải “Có đủ điều kiện kỹ thuật để đo đạc, phân tích và đánh giá tác động môi trường” là chưa phù hợp và nên sửa thành “Có đủ điều kiện kỹ thuật để đo đạc, phân tích và đánh giá tác động môi trường hoặc thuê đơn vị có đủ tư cách pháp nhân, năng lực để đo đạc, phân tích môi trường”.

Tại Khoản 4, Điều 58 dự thảo quy định việc “Tổ chức đánh giá, xác định các nguồn gây thiệt hại và mức độ thiệt hại do ô nhiễm môi trường lưu vực sông trong địa bàn; chỉ đạo, triển khai các biện pháp khắc phục”  là chưa đầy đủ. Đề nghị nên bổ sung thêm phần tổ chức quan trắc, phân tích chất lượng nước. Cụ thể như sau: “Tổ chức đánh giá, quan trắc, phân tích chất lượng nước. Từ đó xác định các nguồn gây thiệt hại và mức độ thiệt hại do ô nhiễm môi trường lưu vực sông trong địa bàn; chỉ đạo, triển khai các biện pháp khắc phục”.

Theo ông Nguyễn Duy Ngọc, Phó Phòng Pháp chế Công an Thành phố thì cho rằng tại khoản 2,  Điều 7 dự thảo quy định“Khai thác các nguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ, phương pháp hủy diệt, không đúng thời vụ và sản lượng theo quy định của pháp luật” thì vấn đề đặt ra ở đây là phải giải thích được rõ nghĩa các cụm từ: phương tiện, công cụ, phương pháp huỷ diệt, tiếp đó hệ thống pháp luật có quy định nào về giới hạn sản lượng khai thác hay không? Mùa nào là đúng thời vụ đối với nguồn tài nguyên sinh vật?. Do vậy, đề nghị Ban soạn thảo cần nghiên cứu bổ sung, làm cụ thể thêm các thuật ngữ, khái niệm. Đồng thời cần rà soát một cách kỹ càng những hành vi bị nghiêm cấm nào chưa được các luật khác quy định thì đưa vào Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường, còn những hành vi bị nghiêm cấm nào đã được quy định tại các văn bản khác thì không nên đưa vào nữa mà chỉ cần viện dẫn áp dụng tại Điều, khoản của văn bản đó.

Kết thúc hội nghị, thay mặt Đoàn ĐBQH Thành phố, bà Nguyễn Thị Hồng Hà, Phó Trưởng Đoàn đã tiếp thu và đánh giá cao những ý kiến đóng góp tâm huyết của các đại biểu tham dự Hội nghị và khẳng định, những kiến nghị này sẽ được Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội tổng hợp trình lên Ban soạn thảo để nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung vào các điều, khoản của Luật và trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tới.

ĐÌNH HOÀNG

Lượt xem: 410

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.