Lo ngại sự thông thoáng trong dự thảo sửa đổi Luật Phá sản sẽ dẫn đến tình trạng doanh nghiệp phá sản hàng loạt

Theo số liệu chính thức, trong 10 năm qua chỉ có 83 doanh nghiệp phá sản trên tổng số hơn 600.000 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh. Nói về điều này, ông Mai Xuân Hùng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội thẳng thắn nhìn nhận: “Luật Phá sản 2004 vừa ra đời đã… phá sản”.

Ngày 05-3- 2014, Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội đã phối hợp với Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và Tòa án nhân dân tối cao tổ chức lấy ý kiến đại biểu Quốc hội và các cơ quan liên quan vào Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi). Cùng dự hoạt động góp ý kiến có sự tham dự của các vị ĐBQH trong Đoàn, đại diện lãnh đạo một số bộ, ngành, doanh nghiệp, chuyên gia trong và ngoài nước.

Theo số liệu chính thức, trong 10 năm qua chỉ có 83 doanh nghiệp phá sản trên tổng số 500.000 – 600.000 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh. Nói về điều này, ông Mai Xuân Hùng, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội thẳng thắn nhìn nhận: “Luật Phá sản 2004 vừa ra đời đã… phá sản”.

Chính bởi sự phức tạp của khung pháp lý cho việc phá sản một doanh nghiệp mà Dự án Luật Phá sản (sửa đổi) đã phải sửa tới 70 điều, bổ sung hơn 40 điều. Nhiều chuyên gia có mặt tại hội thảo đã đánh giá Dự thảo lần này tiến bộ hơn hẳn so với Luật cũ. Song, cũng có ý kiến lo ngại sự thông thoáng quá mức này sẽ dẫn đến tình trạng doanh nghiệp phá sản hàng loạt.

Các đại biểu tham dự hội thảo

Ông Vũ Xuân Tiền, Trưởng ban tư vấn và phản biện chính sách, Hội các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam chỉ ra nhiều sơ hở của Dự thảo Luật Phá sản (sửa đổi) từ chính việc giải thích từ ngữ. Theo ông Tiền, Dự thảo đã bị nhầm lẫn giữa các khái niệm, như khoản 1, điều 4 giải thích: "Mất khả năng thanh toán là tình trạng doanh nghiệp, hợp tác xã không thanh toán khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu" là không chính xác. Ông cho rằng, nếu gắn điều kiện này với yêu cầu phá sản doanh nghiệp thì chắc chắn sau khi luật ra đời, hàng loạt doanh nghiệp sẽ bị yêu cầu phải phá sản. Theo ông, mất khả năng thanh toán nên được quy định là khi bán toàn bộ tài sản DN nhưng vẫn không đảm bảo trách nhiệm chi trả các khoản nợ đến hạn.

Tương tự như trường hợp khác, mất cân đối dòng tiền cũng chưa phải đã là điều kiện để phá sản doang nghiệp. Đúng ra, đó chỉ là tình trạng trên bảng cân đối của doanh nghiệp chưa đủ tiền. Hiện nay, vốn chủ sở hữu của đa số doanh nghiệp chỉ chiếm khoảng 1/3 tổng tài sản, còn lại là vốn vay. Vì vậy, các trường hợp có thể coi là mất khả năng cân đối vốn khá nhiều. Có thể, việc không thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp chỉ nên coi là cố tình chiếm dụng vốn của đối tác, bởi doanh nghiệp vẫn có đủ khả năng thanh toán. Vì vậy, trong trường hợp này không thể buộc doanh nghiệp phải phá sản mà chỉ nên đưa trọng tài kinh tế.

Đặt vấn đề rằng, định nghĩa về phá sản chưa rõ ràng và không phù hợp với thực tế, ông Tiền lưu ý, quy định thời hạn 03 tháng đối với trường hợp doanh nghiệp hợp tác xã có khoản nợ đến hạn nhưng không thanh toán được coi là lâm vào tình trạng phá sản là quá ngắn. Vì trong 03 tháng, doanh nghiệp vẫn có thể đi thu nợ được và vừa thu về đã bị tuyên bố phá sản thì rất “oan”.

Hay quy định về người có quyền và nghĩa vụ yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng được đánh giá là quá thông thoáng và dễ bị lạm dụng. Khoản 1, điều 5, Dự thảo Luật Phá sản quy định, chủ nợ không hoặc được bảo đảm một phần có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ đến hạn trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày chủ nợ có yêu cầu.

Như vậy, điều khoản này đã không quy định độ lớn của khoản nợ, dễ dẫn tới trường hợp doanh nghiệp dù chỉ nợ một khoản không quá lớn cũng bị yêu cầu phá sản. Trong thực tế, có rất nhiều trường hợp làm đơn buộc doanh nghiệp tuyên bố phá sản với mục đích để hạ uy tín của doanh nghiệp trên thương trường, cạnh tranh không lành mạnh chứ không liên quan đến khả năng thanh toán nợ.

Trong khi thực tế hiện nay, tình trạng các DN nợ lương của người lao động là khá phổ biến, không chỉ doanh nghiệp vừa và nhỏ mà cả các doanh nghiệp lớn lớn. Đây cũng là thực tế cần phải chấp nhận trong bối cảnh kinh tế khó khăn hiện nay. Nếu áp quy định như Dự thảo, chẳng khác nào khuyến khích người lao động tích cực đòi doanh nghiệp tuyên bố phá sản để gây sức ép. Do đó, nhiều ý kiến đồng tình việc sửa lại quy định trên chặt chẽ hơn. Gợi ý là: “Người lao động, đại diện công đoàn có quyền nộp đơn yêu cầu doanh nghiệp, hợp tác xã mở thủ tục phá sản khi không trả được lương, các khoản nợ khác quá 03 tháng, kể từ ngày đến hạn thanh toán”.

Ngoài ra, có ý kiến đề nghị bổ sung trong Luật ít nhất 1 điều khoản quy định về thủ tục phá sản doanh nghiệp trong trường hợp chủ doanh nghiệp bỏ trốn. Vì thực tế hiện nay, rất nhiều chủ doanh nghiệp bỏ trốn để lại các khoản nợ, tài sản còn đó nhưng không thể giải quyết việc phá sản. Nếu không quy định chặt chẽ điều này, doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả là trốn mà hậu quả để lại không xử lý được bằng bán tài sản tồn đọng tại doanh nghiệp là rất vô lý. 

Đình Hoàng

Lượt xem: 423

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.