Luật Nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam: Đề xuất có chứng minh tài chính trong xem xét cấp thị thực

Sáng 20/2, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Các Phó Trưởng đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội: Chu Sơn Hà, Nguyễn Thị Hồng Hà đồng chủ trì Hội nghị, cùng sự tham dự của các vị ĐBQH trong Đoàn, đại diện lãnh đạo, chuyên gia của một số sở, ban ngành, quận huyện, phường trên địa bàn Thành phố và học viện, trường Đại học có liên quan.

Sáng 20/2, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã tổ chức hội nghị lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Các Phó Trưởng đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội: Chu Sơn Hà, Nguyễn Thị Hồng Hà đồng chủ trì Hội nghị, cùng sự tham dự của các vị ĐBQH trong Đoàn, đại diện lãnh đạo, chuyên gia của một số sở, ban ngành, quận huyện, phường trên địa bàn Thành phố và học viện, trường Đại học có liên quan.

Đại diện Công an Thành phố đóng góp ý kiến vào dự thảo Luật

Trong tiến trình tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam thì việc xây dựng để trình Quốc hội xem xét quyết định ban hành Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam là rất cần thiết. Nội dung dự thảo Luật đã thể hiện rõ chủ trương hội nhập sâu rộng với thế giới mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra. Nội dung của dự thảo đã thể hiện rõ sự thuận lợi, thông thoáng hơn trong quản lý việc nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam. Tuy nhiên, cũng cần phải có những quy định rõ hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trong quản lý, thực hiện hoạt động nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài để góp phần đưa kỷ cương pháp luật là nguyên tắc tối thượng trong mọi hoạt động, mọi hành vi, đồng thời hạn chế việc lợi dụng sự thông thoáng trong quản lý của cá nhân, tổ chức để chống phá đất nước.

Theo ông Đỗ Minh Sơn, Trưởng Phòng Văn bản pháp quy, Sở Tư pháp Hà Nội thì cần xem lại phạm vi điều chỉnh quyết định tại Điều 1 dự thảo về quyền trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, vì đây là phạm vi rộng song tại Chương VIII lại bó hẹp chỉ là quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân mời, bảo lãnh người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh tại Việt Nam. Ngoài ra cũng cần xem lại nội dung quy định về trách nhiệm của UBND các cấp, đặc biệt là trách nhiệm trong việc phổ biến, giáo dục pháp luật.

Đóng góp cho dự thảo Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của nước ngoài tại Việt Nam, Phó Chủ tịch UBND huyện Chương Mỹ, ông Đinh Mạnh Hùng cho biết: Trong khoản 1, Điều 3, phần giải thích từ ngữ, “người nước ngoài”, đề nghị cần bổ sung sau cụm từ “ người nước ngoài” bằng cụm từ “ là người không có quốc tịch Việt Nam” sử dụng hộ chiều hoặc giấy tờ có giá trị…để thống nhất với Luật Quốc tịch Việt Nam 2008. Ông Hùng cũng bổ sung quy định về các trường hợp bị hoãn xuất cảnh, cần bổ sung trường hợp vì lý do phòng, chống dịch bệnh như đối với quy định về trường hợp chưa cho nhập cảnh. Bởi vì ngoài việc phòng, chống dịch bệnh trong nước, Việt Nam cũng phải có nghĩa vụ quốc tế đối với việc phòng trống dịch bệnh chung. Nếu để người nước ngoài đang mắc một loại bệnh ở Việt Nam được xuất cảnh mà có nguy cơ lây lan rộng sang nước khác thì cũng rất nguy hiểm cho các nước.

Một nội dung cũng được nhiều đại biểu quan tâm, theo bà Tô Thị Thanh Hương Phó Chủ tịch Hội Luật gia thành phố Hà Nội thì điều kiện cấp thị thực quy đinh tại Điều 10, đề nghị quy định rõ về điều kiện được cấp thị thực là phải có chứng minh về tài chính. Đây là điều kiện cần và đủ để hạn chế một cách hiệu quả nhất người nước ngoài lang thang tìm việc làm vào Việt Nam hay không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính trước khi rời khỏi Việt Nam. Cũng theo bà thì tại khoản 3, Điều 12 của dự thảo nên thay cụm từ “Khu hành chính kinh tế đặc biệt” thành cụm từ “Đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt” để thống nhất khái niệm với khoản 9, Điều 70, khoản 1, Điều 110 của Hiến pháp năm 2013 và Điều 32 về khái niệm tạm trú của dự thảo này.

Cũng tại Hội nghị ông An Quốc Khánh, Trưởng phòng Xuất nhập cảnh, Công an thành phố Hà Nội cho rằng tại Điều 29 của dự thảo cần phải bổ sung thêm quy định tại Chương III ( Xuất cảnh) về các trường hợp người nước ngoài bị buộc xuất cảnh mà không phải là hình thức xử phạt vi phạm hành chính trục xuất. Trong trường hợp này dự thảo cần quy định rõ ràng về các trường hợp bị buộc xuất cảnh.

Phó Trưởng đoàn ĐBQH TP Hà Nội Chu Sơn Hà tiếp thu các ý kiến đóng góp

Bên cạnh đó, nhiều ý kiến phát biểu đã đề nghị trong điều khoản về giải thích từ ngữ, cần phân loại rõ đối tượng không quốc tịch, người Việt Nam, người nước ngoài; trong tên dự thảo Luật cũng cần thêm yếu tố “quá cảnh” vào Việt Nam; trong quy định người có thẻ tạm trú bão lãnh cần bổ sung thêm làm rõ mối quan hệ huyết thống, một quan hệ thăm thân, quy định về bảo lãnh con cái nhập cảnh vào Việt Nam dưới 18 tuổi… Ngoài ra việc nghiên cứu luật cần phải phù hợp Luật hàng không dân dụng hay Luật Biên giới quốc gia.

Thay mặt Đoàn ĐBQH Thành phố, ông Chu Sơn Hà, Phó Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc Hội thành phố Hà Nội tiếp thu và đánh giá cao những ý kiến đóng góp tâm huyết của các đại biểu tham dự Hội nghị và khẳng định, những kiến nghị này sẽ được Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội tổng hợp trình lên Ban soạn thảo để nghiên cứu, chỉnh sửa, bổ sung vào các điều, khoản của Luật và trình Quốc hội thông qua tại kỳ họp tới.

Hoài Thương - Đình Hoàng

Lượt xem: 455

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.