Luật tổ chức Chính quyền địa phương phải được xây dựng trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013
Theo quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005 thì HĐND các cấp có vị trí, vai trò rất quan trọng trong bộ máy chính quyền địa phương. Là cơ quan quyền lực ở địa phương, đại diện cho ý trí và nguyện vọng của cử tri và nhân dân, hai chức năng chính mà HĐND phải thực hiện đó là: Chức năng quyết định và chức năng giám sát; trên tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương, HĐND từng cấp được giao đảm trách nhiều nhiệm vụ và quyền hạn quan trọng...
Bản chất Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Nguyên tắc rất đúng đắn trong quá trình hoạt động của hệ thống chính trị là: Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vị trí và vai trò lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Bản chất và nguyên tắc này được khẳng định ngay từ bản Hiến pháp năm 1946 – Bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta. Nhân dân làm chủ thông qua dân chủ đại diện, đó là được quyền bầu người đại biểu đại diện cho mình. Người đại biểu dân cử ấy chính là Đại biểu HĐND các cấp, Đại biểu Quốc hội. Đó là thể hiện và cụ thể hóa đường lối lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Các bản Hiến pháp sau vẫn kế thừa các quy định đúng đắn đó, tạo nên sự thống nhất, đồng bộ, ổn định của bộ máy Nhà nước, trong đó có chính quyền địa phương; đã ổn định tư tưởng, lòng tin, xây dựng và củng cố tinh thần đoàn kết nhất trí của các tầng lớp nhân dân. Bởi vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện các quy định của Hiến pháp và pháp luật, hơn 70 năm qua, Nhà nước ta, quân và dân ta đã lập nên biết bao chiến công, kỳ tích trong kháng chiến chống ngoại xâm và trong công cuộc xây dựng bảo vệ tổ quốc, thực hiện tốt các nhiệm vụ quốc tế cao cả. Theo quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005 thì HĐND các cấp có vị trí, vai trò rất quan trọng trong bộ máy chính quyền địa phương. Là cơ quan quyền lực ở địa phương, đại diện cho ý trí và nguyện vọng của cử tri và nhân dân, hai chức năng chính mà HĐND phải thực hiện đó là: Chức năng quyết định và chức năng giám sát; trên tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước ở địa phương, HĐND từng cấp được giao đảm trách nhiều nhiệm vụ và quyền hạn quan trọng. HĐND và UBND là hai trong một thực thể thống nhất; đó là mối quan hệ biện chứng giữa quyền lực và chấp hành; đảm bảo cho các cấp chính quyền địa phương hoạt động quản lý, điều hành đạt hiệu quả, góp phần vào thành quả chung của Nhà nước. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của HĐND nói chung vẫn chưa đạt được như mong muốn, chưa thể hiện được hết vai trò, xứng đáng là “Cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương”, phần nào chưa đáp ứng yêu cầu của cử tri và các tầng lớp nhân dân, nhất là ở cấp cơ sở. Vẫn còn có địa phương HĐND đưa ra quyết định thiếu thực tiễn; hiệu quả giám sát hạn chế, tiếp xúc cử tri mang tính hình thức, việc xử lý, đôn đốc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo của công dân chưa quyết liệt... Vì sao lại còn những hạn chế như vậy? Có rất nhiều vấn đề bất cập, xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Trong đó có nguyên nhân chủ quan rất cơ bản xuất phát từ sự lãnh đạo của Đảng và từ chỉ đạo, điều hành hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước; từ sự chưa nỗ lực, cố gắng làm hết chức trách, nhiệm vụ được giao của các cơ quan HĐND và Đại biểu HĐND… Trước hết nhìn nhận về lãnh đạo của Đảng để hoàn thiện hệ thống các cơ quan HĐND và bảo đảm quyền lực thực tế của HĐND. Hiến pháp năm 2013, một lần nữa lại khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Không thể phủ nhận dưới sự lãnh đạo của đảng, vừa qua các cấp HĐND đã thực hiện khá tốt chức năng nhiệm vụ được giao, thu được nhiều thành quả tốt. Hiện nay, Chủ tịch HĐND có nơi là Bí thư, Phó Bí thư cấp ủy cùng cấp; Phó Chủ tịch HĐND có nơi được cơ cấu Ủy viên thường vụ cấp ủy cùng cấp, có nơi chỉ là cấp ủy viên; Ủy viên thường trực HĐND có nơi được cơ cấu là cấp ủy viên cùng cấp, có nơi không là cấp ủy cùng cấp. Đối với cấp ủy, Trưởng Ban HĐND chuyên trách là ủy viên cấp ủy cùng cấp không đáng kể mặc dù các Ban thì có chức năng, nhiệm vụ nặng nề phụ trách nhiều lĩnh vực thuộc nhiều sở, ngành... Trong khi đó, Chủ tịch UBND là Phó Bí thư, các Phó Chủ tịch hầu hết là Ủy viên Thường vụ; hầu hết Giám đốc các Sở, ngành là cấp ủy viên. Phân tích lý do vì sao thì thật khó, nhưng có một thực tế là khi bảo lựa chọn vị trí nào, hầu như sự lựa chọn của cán bộ là: Muốn được làm Phó chủ tịch UBND hơn là làm Phó chủ tịch HĐND cùng cấp!? Như vậy, ngay cả Đảng cũng chưa có sự nhìn nhận thống nhất, nếu không muốn nói là xem nhẹ địa vị pháp lý của HĐND. Sự không tương xứng, ngang tầm và phù hợp này cũng làm khó cho hoạt động của HĐND. Cơ chế Đảng cử, dân bầu là lẽ tất nhiên nhưng nếu không bảo đảm dân chủ và đúng luật khi lưa chọn nhân sự, nếu chỉ quan tâm tiêu chí, tiêu chuẩn chung mà xem nhẹ cơ cấu đại biểu để bảo đảm phù hợp tỷ lệ đại biểu chuyên trách, kiêm nhiệm; trong đảng, ngoài đảng; các cơ quan đơn vị, đoàn thể, doanh nhân; độ tuổi thì không thể coi là dân chủ đại diện… Hiện tại cho thấy ở đâu cấp ủy đảng quan tâm, sáng suốt, sâu sát trong lãnh đạo đối với hoạt động của HĐND thì ở đó HĐND thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quyền lực nhà nước Hai là các quy định tại các văn bản Pháp luật của Nhà nước về cơ cấu tổ chức bộ máy của HĐND còn bất cập, không có sự thống nhất, đồng bộ trong trong quản lý hệ thống các cơ quan HĐND, giữa Thường trực HĐND cấp trên và cấp dưới… Hiện ở 63 tỉnh, thành phố có địa phương Chủ tịch HĐND chuyên trách, có nơi lại kiêm nhiệm. Như ở thành phố Hà Nội, cơ cấu tổ chức UBND Thành phố có Chủ tịch và 7 Phó Chủ tịch. Nhưng HĐND Thành phố chỉ có Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch và 01 Ủy viên Thường trực. Ở cấp huyện, ngoài Bí thư hoặc Phó Bí thư kiêm Chủ tịch HĐND, có 01 Phó Chủ tịch và 01 Ủy viên chuyên trách. Với UBND cấp huyện có Chủ tịch, 04 Phó Chủ tịch. UBND cấp tỉnh là một cơ quan hoàn chỉnh, còn Thường trực HĐND chưa được coi là một cơ quan. Với các Ban HĐND, số nơi có Trưởng ban, Phó ban chuyên trách rất ít. Trong khi đó, không có địa phương nào cơ cấu Chủ tịch UBND, giám đốc hoặc thủ trưởng sở ngành kiêm nhiệm như HĐND. Hiện nay, trong toàn quốc, mới có HĐND thành phố Hà Nội và khoảng 7 tỉnh, thành phố khác bố trí được các Trưởng, Phó ban HĐND chuyên trách. Ở cấp quận, huyện, thị xã hầu như chưa bố trí được. Hiện nay, tỷ lệ đại biểu chuyên trách ở cấp tỉnh, như ở Hà Nội mới 14,5%; cấp huyện 10%, cấp xã 5%. Hiện nay, Thường trực HĐND cấp tỉnh, cấp huyện không phải là một cơ quan với đầy đủ tư cách pháp nhân. Các Ban HĐND mặc dù nói là tương đương sở, ngành, nhưng hiện hữu như một bộ phận nhỏ thuộc Thường trực HĐND. Luật quy định Tổ đại biểu HĐND là một thực thể hiện hữu, có tầm quan trọng đặc biệt, nhưng Luật tổ chức HĐND và UBND 2003 chưa đề cập đến. Bộ máy giúp việc cho Thường trực HĐND, các Ban HĐND và Đoàn ĐBQH tỉnh, thành phố do Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND cấp tỉnh đảm nhiệm, số lượng công chức, viên chức không đáng kể trong hệ thống bộ máy. Lại có nhiệm vụ giúp việc cho cả Thường trực HĐND, Đoàn ĐBQH và cả các Ban HĐND. Ở cấp huyện không bố trí văn phòng riêng, có nơi không bố trí chuyên viên giúp việc riêng cho Thường trực HĐND. Tình trạng vướng mắc chồng chéo về tổ chức và hoạt động của Văn phòng ĐĐBQH và HĐND cấp tỉnh đến nay vẫn chưa được tháo gỡ như những quy định về thể chế chưa rõ ràng, chức năng nhiệm vụ nhiều trùng lắp, mối quan hệ trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ không được định hình, tổ chức bộ máy thiếu thống nhất, điều kiện vật chất bảo đảm chưa đồng bộ, nhận thức về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của Văn phòng cũng chưa đúng, chưa đầy đủ và còn nhiều cách đánh giá khác nhau. Trừ cấp tỉnh, hầu hết các HĐND không có trụ sở làm việc riêng; không có văn phòng riêng; các chức danh của HĐND như chủ tịch, trưởng ban, phó trưởng ban của các Ban HĐND hoạt động kiêm nhiệm không có phụ cấp. HĐND ở cấp xã không có các Ban; hoạt động đã khó khăn lại càng khó khăn hơn bởi năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở, điều kiện bảo đảm và chế độ chính sách hiện hành. Có thể nói cơ cấu tổ chức bộ máy của HĐND rất hạn hẹp, chưa được quan tâm. Việc đánh giá, bình xét thi đua khen thưởng đối với hệ thống HĐND các cấp, đối với đại biểu HĐND vẫn còn phụ thuộc, Luật Thi đua khen thưởng chưa quy định thẩm quyền của HĐND trong công tác thi đua khen thưởng.. Gọi là cơ quan quyền lực nhưng cơ quan HĐND, các Ban HĐND và đại biểu HĐND, khi xét khen thưởng lại do Chủ tịch UBND cùng cấp hoặc cấp trên quyết định. Đặc biệt là trong bộ máy Nhà nước mối quan hệ giữa cơ quan quyền lực cao nhất – Quốc hội với cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương – HĐND các cấp thế nào? Mối quan hệ giữa cơ quan hành pháp cao nhất – Chính phủ với HĐND các cấp thế nào? Sự phân chia quyền chỉ đạo, điều hành trong hệ thống bộ máy nhà nước nhất là giữa cơ quan quyền lực và cơ quan chấp hành ra sao cho không chồng chéo…? HĐND – cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương còn UBND – cơ quan chấp hành của HĐND, hai trong một thực thể chính quyền, nhưng quá thiên lệch. Đây là nguyên nhân và cũng là những câu hỏi lớn mà Đảng và Nhà nước cần quan tâm giải đáp!? Ba là, theo luật định thì quyết định và giám sát là hai chức năng chủ yếu của Hội đồng nhân dân. Vì sao hoạt động giám sát hiệu quả còn hạn chế, mang tính hình thức và chưa xứng với quyền năng của cơ quan quyền lực?Phải nói rằng bên cạnh chức năng quyết định thì chức năng giám sát mới là quyền năng thể hiện quyền lực thực tế, được cử tri và nhân dân gửi gắm, mong đợi nhất. Quyết định làm tiền đề để giám sát còn giám sát để có quyết định đúng pháp luật và thực tiễn hơn. Đây là mối quan hệ gắn bó và rất biên chứng. Hầu như mỗi kỳ họp Quốc hội hay kỳ họp HĐND, cử tri và các tầng lớp nhân dân thường quan tâm nhiều nhất là các phiên chất vấn. Theo luật định thì HĐND được thực thi các hình thức giám sát là: Giám sát của HĐND tại kỳ họp; giám sát của Thường trực HĐND; giám sát của các Ban của HĐND và giám sát của đại biểu HĐND; Đối tượng giám sát của HĐND bao gồm: Hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương. Vừa qua có thêm nhiệm vụ tổ chức thực hiện Nghị quyết số 35/2012/QH13 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Đây cũng được coi như một hình thức giám sát. Hình thức giám sát có thể thành lập các đoàn giám sát trực tiếp tại cơ sở hoặc giám sát qua báo cáo…Như vậy lĩnh vực, đối tượng chịu sự giám sát của HĐND rất rộng.
Tuy nhiên, vấn đề quan trọng, cốt lõi của giám sát là: HĐND được áp dụng chế tài sau giám sát ra sao thì chưa thấy có văn bản pháp luật hiện hành nào quy định cụ thể. Chưa có Luật giám sát của HĐND. Thực tế cho thấy ở mỗi tỉnh, thành phố, tổng số cuộc giám sát của HĐND các cấp thực hiện trong một năm đã hàng chục cuộc. Lẽ dĩ nhiên giám sát để đôn đốc, giám sát để chấn chỉnh, nhưng giám sát cũng còn phát hiện ra những sai phạm nặng để xử lý trách nhiệm hành chính và có thể xử lý bằng pháp luật. Nhưng thử hỏi sau giám sát đã có bao nhiêu tập thể, cá nhân bị xử lý kỷ luật? Ngay ở thành phố Hà Nội, các kết luận, kiên nghị sau giám sát của Đoàn ĐBQH hặc của HĐND cũng phải đôn đốc nhiều lần các cơ quan, đơn vị, người có trách nhiệm thuộc đối tượng chịu sự giám sát mới trả lời. Nội dung trả lời thường là “sẽ” hoặc “đang” thực hiện… Vì sao hiện tượng “trơ” và “nhờn thuốc” đã và đang diến ra, biến hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước thành một hoạt động mang tính “ hình thức” và từ đó suy luận hoạt động của HĐND không hiệu quả, có cũng được mà không cũng được? Nói một cách hình tượng là “trao cho súng không có đạn để dọa thôi”. Với cơ cấu “quân vay, tướng mươn”, hiện nay ở các cấp HĐND tỷ lệ đại biểu chuyên trách qua ít, thử hỏi khi chất vấn, biểu quyết những vấn đề quan trọng, nhạy cảm như việc lấy phiếu tín nhiệm liệu có bảo đảm khách quan, trung thực không? Đây là câu hỏi thật khó mà cũng thật dễ trả lời. Thiết nghĩ rất cần sự nhìn nhận đánh giá đúng của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về địa vị pháp lý, chức năng nhiệm vụ đã trao cho HĐND trong thời gian vừa qua!
Điều 111 Hiến pháp 2013 đã quy định: “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước CHXHCN Việt Nam. Cấp chính quyền địa phương gồm có HĐND và UBND được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính- kinh tế đặc biệt do luật định”. Theo Chương trình hoạt động của Quốc hội khóa XIII thì dự thảo Luật tổ chức Chính quyền địa phương sẽ được xem xét thông qua tại kỳ họp thứ Chín. Ngay sau khi Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 2013, các cơ quan chức năng đã tiến hành xây dựng dự thảo Luật tổ chức Chính quyền địa phương, thực hiện nhiều cuộc hội thảo và đã đưa ra xin ý kiến lần đầu tại kỳ họp thứ Tám, Quốc hội khóa XIII. Nội dung quan trọng nhất cần bàn là: Tổ chức chính quyền địa phương theo phương thức nào? Từ phân tích đánh giá một số nội dung cơ bản về tổ chức, hoạt động giám sát, điều kiện đảm bảo của HĐND trong thời gian qua, những vấn đề cơ bản dễ làm cho HĐND hoạt động và tồn tại mang tính hình thức, đề nghị Quốc hội cần sớm tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 26/2008/QH12 về "Thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường". Thiết nghĩ vấn đề đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của chính quyền địa phương hiện nay không chỉ có ý nghĩa quyết định trước hết đối với hoạt động của HĐND các cấp, mà còn bảo đảm thực hiện đúng nguyên tắc hiên định là: Tổ chức chính quyền địa phương không thể trái Hiến pháp của Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Luật tổ chức Chính quyền địa phương cần sửa đổi và bổ sung các quy định làm sao để HĐND thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, thể hiện đúng vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và vai trò là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của cử tri và nhân dân địa phương./. Nguyễn Xuân Diên Đại biểu HĐND thành phố Hà NộiLượt xem: 495
Bình luận bài viết
Chưa có bình luận nào.