Mô hình tổ chức và một số kinh nghiệm hoạt động của các Ban HĐND thành phố Hà Nội

Điều nổi bật nhất của các ban HĐND thành phố Hà Nội chính là việc đã bố trí đủ tại 03 ban đều có Trưởng ban, 01 Phó Trưởng ban và 01 Ủy viên hoạt động chuyên trách. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, các Ban HĐND đã phát huy vai trò, vị thế trong công tác thẩm tra, giám sát, đảm bảo đúng trọng tâm, trọng điểm và đạt hiệu quả cao.

 

Điều nổi bật nhất trong mô hình tổ chức các ban HĐND thành phố Hà Nội chính là việc đã bố trí đủ tại 03 ban đều có Trưởng ban, 01 Phó Trưởng ban và 01 Ủy viên hoạt động chuyên trách và 12 thành viên khác hoạt động kiêm nghiệm đều có tinh thần trách nhiệm, trình độ, khả năng am hiểu ngành, lĩnh vực cao. Để mỗi ban có được 3 thành viên hoạt động chuyên trách, ngay từ khi phân bổ chỉ tiêu bầu cử HĐND Thành phố nhiệm kỳ 2011 – 2016, Thường trực HĐND Thành phố đã báo cáo và được Ban Thường vụ Thành ủy thống nhất về tỷ lệ, số lượng đại biểu chuyên trách và giao cho Thường trực HĐND Thành phố chủ động lọc chọn, giới thiệu nhân sự. Các ban sau khi được bầu đều xây dựng quy chế hoạt động của ban, phân công cụ thể nhiệm vụ trong lãnh đạo và ủy viên chuyên trách, đồng thời chia các thành viên ban thành các tổ theo chuyên môn hẹp và phân công lãnh đạo ban và ủy viên chuyên trách làm tổ trưởng.

 

Ban Kinh tế Ngân sách HĐND Thành phố khảo sát cơ chế chính sách đầu tư cho nông nghiệp, tháng 1-2013

 

Tham mưu, giúp việc cho từng ban có các nhóm chuyên viên thuộc Phòng công tác HĐND của Văn phòng Đoàn ĐBQH&HĐND Thành phố. Theo biên chế xây dựng: Ban Kinh tế và Ngân sách có 4 chuyên viên giúp việc, Ban VHXH và Ban Pháp chế mỗi ban có 3 chuyên viên giúp việc (tuy nhiên hiện nay mới bố trí được mỗi ban có 2 chuyên viên giúp việc, trong đó có 1 Phó Trưởng phòng).

Với đội ngũ thành viên Ban và chuyên viên giúp việc “thiện chiến” nên hoạt động của các ban HĐND thành phố Hà Nội luôn đảm bảo chất lượng ngay từ khi xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động, và công tác khảo sát, giám sát, thẩm tra...

Căn cứ Nghị quyết về chương trình xây dựng nghị quyết hàng năm của HĐND Thành phố, các ban theo nhiệm vụ, chức năng đã chủ động xây dựng chương trình công tác của mình ngay từ đầu năm, cụ thể đến quý, tháng. Kế hoạch hoạt động của từng ban đều bám sát vào chương trình giám sát của HĐND và kế hoạch này được các thành viên ban thực hiện nghiêm túc, chủ động.

Ngay sau họp liên tịch giữa Thường trực HĐND, UBND, UBMTTQ Thành phố thống nhất chương trình cụ thể từng kỳ họp, Thường trực HĐND Thành phố có văn bản phân công cụ thể cho các ban trong phối hợp chuẩn bị kỳ họp và thẩm tra các nội dung cần thẩm tra theo quy định của luật. Trên cơ sở phân công của Thường trực, các ban chủ động vào cuộc, phối hợp ngay từ đầu với các cơ quan chuyên môn của UBND được phân công chuẩn bị các nội dung kỳ họp, dự các cuộc họp do các ngành và UBND Thành phố mời để tham gia, góp ý kiến ngay từ khâu soạn thảo báo cáo, đề án, tờ trình và dự thảo nghị quyết trình HĐND.

Riêng về chuẩn bị dự toán hàng năm, đã thành thông lệ nhiều năm nay, dưới sự tham mưu của Ban Kinh tế - Ngân sách và các cơ quan chuyên môn của UBND Thành phố, vào khoảng cuối tháng 9, đầu tháng 10, Thường trực HĐND họp với tập thể UBND Thành phố (chủ trì là 2 đồng chí: đồng chí chủ tịch HĐND và chủ tịch UBND) để thống nhất quan điểm, định hướng và các nguyên tắc phân bổ ngân sách năm sau (sau cuộc họp có thông báo kết luận), làm cơ sở cho các cơ quan chuyên môn của UBND Thành phố xây dựng dự toán và thẩm tra của các ban HĐND mà chủ trì là Ban KTNS. Cách làm đó đã chủ động chuyển tải được định hướng ưu tiên của Thường trực HĐND Thành phố trong xây dựng và phân bổ dự toán hàng năm ngay từ khâu lập dự toán của UBND Thành phố.

Đối với những nội dung quan trọng, lớn, phức tạp, các ban chủ động khảo sát thực tế trước khi thẩm tra. Tổ chức để tập thể ban nghe cơ quan chuẩn bị báo cáo trước và các thành viên ban góp ý để các cơ quan hoàn thiện báo cáo UBND trước khi trình HĐND. Đối với các nội dung không được tiếp thu, ban tiếp tục có ý kiến khi thẩm tra và báo cáo HĐND (nếu UBND giải trình không thuyết phục). Để thêm thông tin phục vụ thẩm tra, các ban HĐND Thành phố còn tổ chức tiếp xúc cử tri chuyên đề, xin ý kiến chuyên gia và phối hợp với UBMTTQ Thành phố tổ chức phản biện.

Trong báo cáo thẩm tra, các ban đều thể hiện rõ quan điểm đối với những nội dung UBND trình, rõ nội dung đồng ý, nội dung đề nghị điều chỉnh, bổ sung, nội dung không đồng ý và lý do đề nghị điều chỉnh, bổ sung và lý do không đồng ý. Trước kỳ họp, Thường trực HĐND, tập thể UBND họp với sự tham gia của các ban và các sở, ngành để rà soát toàn bộ công việc chuẩn bị cho kỳ họp, trao đổi về những ý kiến thẩm tra của các ban đối với những nội dung không đồng ý hoặc đề nghị điều chỉnh, bổ sung so với nội dung trình của UBND, của Thường trực HĐND… Trên cơ sở họp rà soát, Thường trực HĐND, UBND thống nhất chỉ đạo điều chỉnh (nếu cần thiết) hoặc để UBND chỉ đạo giải trình, tiếp thu.

Từ việc làm kỹ càng này của các ban HĐND thành phố, mà tại một số kỳ họp HĐND thành phố Hà Nội, UBND Thành phố cùng các ngành phải có nhiều lượt báo cáo giải trình thêm các nội dung, thay đổi, đính chính một số tờ trình, đề án, dự thảo nghị quyết. Thậm chí đã từng có nội dung đến phút cuối phải xin thống nhất giữa các cơ quan để rút khỏi chương trình kỳ họp để chuẩn bị kỹ lại, trình tại kỳ họp sau. Và càng ngày, quá trình chuẩn bị của UBND Thành phố và các cơ quan có liên quan càng kỹ càng, có sự vào cuộc rất sớm của các ban HĐND và đảm bảo được chất lượng cao.

Để tăng cường phối hợp của các ban với các cơ quan của UBND, Thường trực HĐND Thành phố đã chỉ đạo các ban tiến hành ký kết quy chế phối hợp với các cơ quan chuyên môn tương ứng của UBND Thành phố. Với cách làm trên, hoạt động thẩm tra của các ban ngày càng chủ động, chất lượng được nâng lên, nhiều đề xuất kiến nghị của các ban trong quá trình phối hợp chuẩn bị nội dung trình kỳ họp và trong thẩm tra được các cơ quan chuyên môn của UBND và UBND Thành phố tiếp thu, điều chỉnh, bổ sung, cá biệt có những trường hợp điều chỉnh tới 70% hoặc thay đổi hướng tiếp cận, làm cho nghị quyết của HĐND có chất lượng, sát thực tiễn hơn. Qua hoạt động thẩm tra của các ban, vị thế và hiệu quả hoạt động của các ban ngày càng được nâng lên, góp phần nâng cao vị thế, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND Thành phố.

Hoạt động giám sát của các ban HĐND Thành phố được thực hiện trên cơ sở kế hoạch giám sát chung của Thường trực HĐND, kế hoạch hoạt động hàng năm của ban. Kế hoạch này được xây dựng trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của mỗi ban và thực tế những vấn đề nổi cộm mà nhân dân và cử tri quan tâm.

Do nội dung giám sát của các ban rất rộng, các ban HĐND thành phố Hà Nội trong hoạt động giám sát luôn quan tâm chọn những vấn đề lớn, những vấn đề nổi cộm để tập trung giám sát và giám sát đến cùng. Trong hoạt động giám sát các ban đều quan tâm cả giám sát chung và giám sát chuyên đề gắn với đề xuất cơ chế chính sách, giải pháp. Kết hợp giám sát thực tế tại địa bàn với giám sát qua báo cáo và giám sát văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan có liên quan ban hành.

Kết thúc mỗi đợt giám sát, các ban đều có thông báo kết luận của đoàn giám sát gửi báo cáo Thường trực HĐND, UBND và các đơn vị liên quan. Đối với những vấn đề lớn gửi báo cáo Thường trực Thành uỷ để kiến nghị chỉ đạo.

Ban Văn hóa Xã hội giám sát công tác vệ sinh an toàn thực phẩm

Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong giám sát, các ban HĐND Thành phố đều quan tâm theo dõi việc thực hiện các kết luận, kiến nghị giám sát của các đối tượng chịu sự giám sát, khi cần thiết sẽ tổ chức tái giám sát và đưa ra chất vấn tại các kỳ họp HĐND.

Cách làm trên trong hoạt động giám sát của các ban HĐND thành phố Hà Nội đã có tác dụng thúc đẩy giải quyết các kiến nghị giám sát của các ban, làm cho giám sát của các ban ngày càng có hiệu quả, hiệu lực hơn. Nhiều nội dung lớn như: Thiếu trường lớp trong giáo dục mầm non; xây dựng cơ sở hạ tầng trong các khu đô thị; cơ chế, phân cấp quản lý ngân sách; tình trạng ùn tắc giao thông... trên cơ sở kiến nghị từ kết quả giám sát của các ban HĐND Thành phố đã được Thành ủy tiếp thu, chỉ đạo UBND Thành phố các cơ quan có liên quan thực hiện tốt các giải pháp tháo gỡ vưỡng mắc; tạo nên vị thế, hiệu quả cao đối với hoạt động của các ban HĐND./.

Lượt xem: 365

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.