Mối quan hệ giữa đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND: Xóa bỏ bức tường vô hình

Sự gắn kết giữa cơ quan dân cử Trung ương và địa phương sẽ có tác động bổ khuyết cho nhau, thúc đẩy hiệu lực, hiệu quả và tính thực quyền của cơ quan dân cử. Khi có sự gắn kết, ĐBQH tranh luận trên nghị trường sẽ sâu sắc hơn bởi đã có được các cứ liệu thực tiễn chính xác từ các đại biểu HĐND. Ngược lại, đại biểu HĐND, HĐND sẽ kế thừa những đổi mới, kỹ năng, phương thức hoạt động của QH, từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.

Sự gắn kết, thông suốt trong hoạt động giữa QH và HĐND sẽ tăng cường sức mạnh của hệ thống cơ quan dân cử và xóa bỏ bức tường vô hình ngăn cách giữa ĐBQH - đại biểu HĐND bấy lâu nay.

Vẫn còn tư duy “việc ai nấy lo”

Hiến pháp và các đạo luật liên quan đều khẳng định QH và HĐND là cơ quan dân cử, cơ quan quyền lực nhà nước, nhưng quy định về mối quan hệ, trách nhiệm trong hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước (QH với HĐND nói chung và với HĐND cấp tỉnh; trách nhiệm của HĐND cấp trên với HĐND cấp dưới) còn rất mờ nhạt. Giữa các cơ quan quyền lực thiếu sự ràng buộc, gắn kết trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thông tin, báo cáo… Không quy định có tính bắt buộc quan hệ chỉ đạo, phối hợp trong từng hoạt động, vẫn còn tư duy “việc ai người nấy lo” nên hiệu quả thu được không như mong muốn. Đặc biệt, mối quan hệ phối hợp hoạt động của ĐBQH, đại biểu HĐND các cấp ở từng địa phương, trên từng địa bàn rất yếu; có nơi hầu như không có quan hệ gì…

Sự phối hợp giữa QH và HĐND cấp tỉnh trong giám sát xây dựng pháp luật; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước đã bước đầu được thể hiện, nhưng chưa được thường xuyên. Bởi vậy, trong quá trình hoạt động của cơ quan dân cử Trung ương và địa phương phát sinh một số vấn đề. Chẳng hạn, QH thành lập các đoàn giám sát và tiến hành giám sát ở các địa phương, đôi khi lại trùng lặp với các hoạt động giám sát mà HĐND địa phương đó vừa thực hiện. Khi xây dựng các Dự thảo luật quan trọng hay các đạo luật liên quan trực tiếp đến hoạt động của cơ quan dân cử, QH đã mời đại biểu HĐND một số địa phương tham dự nhưng chưa được nhiều, chưa kể, đại biểu HĐND ít khi được mời phát biểu. Có lẽ, trong mối quan hệ giữa cơ quan dân cử Trung ương và địa phương, sự phối hợp hiệu quả hơn cả chính là giữa Đoàn ĐBQH của tỉnh và HĐND tỉnh.

Gắn kết để tăng sức mạnh

Một sự gắn kết, thông suốt trong hoạt động giữa QH và HĐND địa phương là điều kiện cần để tăng cường sức mạnh của hệ thống cơ quan dân cử trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Về công tác tổ chức, Luật quy định UBTVQH phê duyệt bộ máy HĐND cấp tỉnh. Khi bàn đến cơ cấu, nhân sự dự kiến cho bộ máy, chẳng hạn đối với chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Thường trực HĐND cấp tỉnh thì cấp ủy, chính quyền địa phương cần có sự trao đổi với UBTVQH. QH là cơ quan quyền lực cao nhất, nhưng lại đứng ngoài quá trình thảo luận, chuẩn bị nhân sự Thường trực HĐND cấp tỉnh sẽ ảnh hưởng nhiều đến mối quan hệ giữa cơ quan dân cử Trung ương và địa phương.

Về mối quan hệ phối hợp trong TXCT trước và sau kỳ họp, cần kết hợp tổ chức một cuộc TXCT của ĐBQH ứng cử ở một địa phương và đại biểu HĐND các cấp được bầu ở địa phương đó. Trong cuộc tiếp xúc này, cử tri có thể phản ánh tất cả các kiến nghị, tâm tư, nguyện vọng của mình, nội dung nào thuộc địa phương, nội dung nào thuộc Trung ương, các đại biểu tùy vai của mình trao đổi, tiếp thu. Kết hợp được như vậy vừa đỡ tốn kém, vất vả cho công tác chuẩn bị, phục vụ, vừa thể hiện sự đoàn kết của các đại biểu cơ quan dân cử, đồng thời tiết kiệm thời gian cho cử tri.

Luật đã quy định, QH có nhiệm vụ và quyền hạn giám sát tối cao tất cả hoạt động của bộ máy nhà nước; UBTVQH giám sát hoạt động của HĐND cấp tỉnh. Chính vì thế, có ý kiến cho rằng, bởi vì QH và HĐND có mối quan hệ cấp trên, cấp dưới nên không giám sát; ngược lại, ý kiến khác lại đặt vấn đề, cùng là bộ máy chính quyền địa phương, sao QH chỉ giám sát bên này mà không giám sát bên kia, như vậy có bảo đảm tính khách quan, toàn diện hay không. Có lẽ, cần phải có sự nhìn nhận lại vấn đề này một cách thấu đáo. Trong hoạt động giám sát, cũng cần đẩy mạnh sự phối hợp giữa hai cơ quan dân cử. Khi QH, UBTVQH, các Ủy ban của QH giám sát ở địa phương cần mời các đại biểu ứng cử ở đó tham gia cùng. Đây là dịp tạo sự gắn kết chặt chẽ giữa QH và HĐND, giữa các đại biểu dân cử. Ngược lại, đối với HĐND, khi giám sát có thể mời các ĐBQH ứng cử tại địa phương đó tham gia, để đại biểu nắm đầy đủ thông tin ở nơi mình ứng cử.

Sự phối hợp giữa hai cơ quan dân cử trong việc tiếp nhận và giải quyết đơn thư KNTC của công dân rất cần nhịp nhàng để tránh trùng lặp. Trong nhiều trường hợp, cùng một vụ việc, công dân gửi đơn đến cả ĐBQH và đại biểu HĐND. Hoặc, cùng một vụ việc, nhưng ĐBQH có một quan điểm, đại biểu HĐND lại có quan điểm khác; Thường trực HĐND có một quan điểm, nhưng Đoàn ĐBQH lại có quan điểm khác. Trong những trường hợp này, việc trao đổi thông tin giữa các đại biểu và hai cơ quan dân cử cực kỳ cần thiết. Hơn nữa, khi có sự phối hợp nhịp nhàng, việc tiếp nhận, xử lý, đôn đốc, giám sát việc giải quyết đơn thư và trả lời cho công dân cũng sẽ hiệu quả hơn, giảm tình trạng đơn thư gửi sai địa chỉ.

Sự gắn kết giữa cơ quan dân cử Trung ương và địa phương sẽ có tác động bổ khuyết cho nhau, thúc đẩy hiệu lực, hiệu quả và tính thực quyền của cơ quan dân cử. Khi có sự gắn kết, ĐBQH tranh luận trên nghị trường sẽ sâu sắc hơn bởi đã có được các cứ liệu thực tiễn chính xác từ các đại biểu HĐND. Ngược lại, đại biểu HĐND, HĐND sẽ kế thừa những đổi mới, kỹ năng, phương thức hoạt động của QH, từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động của mình. Trong mối quan hệ giữa hai cơ quan dân cử, bản thân ĐBQH và đại biểu HĐND cần phải phá vỡ bức tường vô hình ngăn cách bấy lâu nay, cùng trao đổi, sẻ chia, hỗ trợ nhau làm tốt hơn trách nhiệm người đại biểu. Về lâu dài, phải sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và các đạo luật quy định rõ ràng và thống nhất về quyền, trách nhiệm, mối quan hệ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước với nhau và với cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội.

Nguyễn Xuân Diên - Phó Chánh Văn phòng Đoàn ĐBQH TP Hà Nội

Lượt xem: 561

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.