Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ban hành và thực hiện nghị quyết chuyên đề

Các nghị quyết chuyên đề của HĐND thành phố Hà Nội đều đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cử tri. Nhiều nghị quyết có tính chất đột phá góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH của địa phương.

 

Tham luận của Thường trực HĐND thành phố Hà Nội do Ủy viên Thường trực Nguyễn Văn Nam trình bày tại Hội nghị Thường trực HĐND các tỉnh, TP đồng bằng sông Hồng và duyên hải Bắc bộ lần thứ 4:

Tình hình ban hành nghị quyết chuyên đề của HĐND thành phố Hà Nội.

Nghị quyết chuyên đề của HĐND thành phố được ban hành theo yêu cầu thực tiễn ở địa phương, các nội dung chuyên đề sẽ trình HĐND xem xét, thông qua khi tập thể UBND mời đại diện các ban HĐND liên quan cho ý kiến tham gia trước khi UBND thống nhất trình HĐND. Đối với những nội dung có tính chuyên môn sâu, Thường trực HĐND chủ trì hoặc giao một ban chủ trì tổ chức lấy ý kiến chuyên gia về dự thảo nghị quyết chuyên đề trước khi các ban tổ chức thẩm tra và trình ra HĐND. Đối với các nghị quyết chuyên đề, Thường trực yêu cầu các ban HĐND khi trình báo cáo thẩm tra ra HĐND cần khẳng định rõ những nội dung thống nhất với cơ quan trình, những nội dung chưa thống nhất, đặc biệt lưu ý vấn đề về thẩm quyền quyết định đối với các nội dung của nghị quyết và định hướng, các nội dung đề nghị HĐND tập trung thảo luận. Đối với những nghị quyết chuyên đề có các chính sách, kế hoạch cần sử dụng vốn ngân sách thì yêu cầu UBND phải tính toán, ước lượng khoản chi ngân sách cho nội dung đó và có lộ trình, thời gian thực hiện; đối với nghị quyết có nội dung về mức hỗ trợ, khuyến khích thì phải có mức cụ thể; đối với nghị quyết về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách thì phải bảo đảm phù hợp với phân cấp quản lý KT-XH, ANQP và có tỷ lệ điều tiết cụ thể. Một số nội dung nghị quyết chuyên đề quan trọng cần được tổ chức lấy ý kiến của MTTQ, quận, huyện...

Ví dụ, HĐND thành phố ban hành nghị quyết chuyên đề về phân cấp quản lý một số lĩnh vực KT-XH, phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách ở địa phương. Trước khi ban hành nghị quyết, Thường trực, các ban HĐND đã có quá trình phối hợp với UBND và các cơ quan chuyên môn nghiên cứu quy định của pháp luật, tình hình thực tiễn, khảo sát tại nhiều địa phương, tham khảo ý kiến các ngành trong khoảng thời gian trên 1 năm. Sau khi nghị quyết chuyên đề được ban hành, Thường trực HĐND Thành phố đã tổ chức giám sát chuyên đề về phân cấp tại tất cả các quận, huyện trên địa bàn trong thời gian hơn một quý với sự tham dự của các sở, ngành liên quan và UBND Thành phố để đôn đốc triển khai thực hiện nghị quyết; rà soát, nắm bắt thông tin về kết quả thực hiện ban đầu và những khó khăn, vướng mắc để kịp thời có chỉ đạo tháo gỡ. Tại các buổi giám sát, Thường trực HĐND đã chỉ đạo, đôn đốc các ngành khẩn trương tham mưu để UBND ban hành các quyết định hành chính về phân cấp để các cấp triển khai thực hiện, tổ chức bàn giao công việc, hướng dẫn các cấp tiếp nhận và thực hiện công tác quản lý theo phân cấp mới...

Do có sự chuẩn bị chu đáo, đầy đủ thông tin, phối hợp chặt chẽ trước khi trình ra HĐND nên chủ tọa kỳ họp sẽ định hướng để HĐND thảo luận, quyết định và nhìn chung các nghị quyết chuyên đề được HĐND thành phố thông qua đều bảo đảm tính thống nhất, phù hợp với quy định và với hệ thống chính sách chung, đúng thẩm quyền, cụ thể để thuận lợi trong tổ chức triển khai thực hiện và có tính khả thi. Tuy nhiên, cũng có một số nội dung chuyên đề khi UBND trình HĐND xem xét không được thông qua ngay tại kỳ họp đó. Nguyên nhân do sự chuẩn bị chưa chu đáo của các cơ quan chuyên môn và sự chỉ đạo, vào cuộc thiếu tích cực của UBND, nhưng do yêu cầu bức thiết nên trình ra HĐND dự thảo nghị quyết chưa bảo đảm chất lượng. Trách nhiệm này chủ yếu thuộc về UBND và các cơ quan chuyên môn của UBND nhưng cũng có sự thiếu quyết liệt của Thường trực, các ban HĐND khi xem xét để thẩm tra và đưa nội dung vào chương trình kỳ họp.

Nhiệm kỳ 2004 - 2011 và qua 5 kỳ họp đầu nhiệm kỳ 2011 - 2016, HĐND Thành phố Hà Nội đã ban hành gần 70 nghị quyết chuyên đề trên các lĩnh vực như: các Nghị quyết về chiến lược và quy hoạch; về phân cấp thu, nhiệm vụ chi ngân sách giữa các cấp và định mứác phân bổí ngân sách năm; Nghị quyết về các biện pháp giảm ùn tắc và tai nạn giao thông; Nghị quyết về đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đào tạo, y tế; Nghị quyết về phát triển hệ thống giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên, giáo dục chuyên nghiệp Thủ đô đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030... Nhìn chung, các nghị quyết chuyên đề của HĐND thành phố đều đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, thể chế hóa kịp thời chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của cử tri. Nhiều nghị quyết có tính chất đột phá góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH của địa phương.

Tuy nhiên, việc theo dõi, giám sát tình hình triển khai thực hiện các nghị quyết chuyên đề cũng còn một số hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu do số lượng nghị quyết chuyên đề là khá lớn; phạm vi, đối tượng áp dụng của các nghị quyết chuyên đề rộng và phong phú; đội ngũ cán bộ chuyên trách còn hạn chế. Do đó việc theo dõi tình hình thực hiện nhiều lúc phải nghiên cứu qua các báo cáo của các tổ chức, cá nhân liên quan; không tổ chức giám sát sâu, giám sát thường xuyên được tình hình triển khai thực hiện tất cả các nghị quyết chuyên đề đã được ban hành.

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả ban hành và thực hiện các nghị quyết chuyên đề

Một là, việc xác định các lĩnh vực cần ban hành nghị quyết chuyên đề phải xuất phát từ yêu cầu thực tế ở địa phương thuộc thẩm quyền của HĐND và không trái quy định của pháp luật. Đồng thời cần đưa vào nghị quyết HĐND về chương trình xây dựng và ban hành nghị quyết hàng năm trình HĐND quyết định tại kỳ họp cuối năm trước để chủ động phân công chuẩn bị.

Hai là, trên cơ sở chương trình xây dựng nghị quyết đã được HĐND thông qua, Thường trực HĐND và UBND sớm xác định thời gian dự kiến trình HĐND đối với từng nghị quyết chuyên đề để phân công tập trung chuẩn bị. Thường trực HĐND sớm phân công, định hướng cho các ban chủ động tiến hành các hoạt động giám sát, khảo sát để thu thập lấy thông tin thực tiễn liên quan đến lĩnh vực sẽ ban hành nghị quyết chuyên đề. Các ban chủ động phối hợp với các cơ quan được phân công chuẩn bị ngay từ đầu và suốt trong quá trình chuẩn bị nghị quyết. Đối với những vấn đề lớn Thường trực HĐND tổ chức khảo sát, giám sát chuyên đề. Đối với những vấn đề liên quan, định hướng đến số đông nhân dân thì tổ chức TXCT, chuyên đề để xin ý kiến các nhà khoa học và các đối tượng chịu sự tác động.

Ba là, căn cứ vào tình hình chuẩn bị của các cơ quan được phân công chuẩn bị, Thường trực HĐND, UBND và UBMTTQ chỉ đưa vào chương trình kỳ họp những nội dung dự kiến trình đã được chuẩn bị chu đáo, chất lượng. Kiên quyết không đưa vào chương trình kỳ họp những nội dung chuẩn bị chưa tốt. Tại hội nghị liên tịch, HĐND, UBND thống nhất thời gian chậm nhất cơ quan trình phải gửi đơn, hồ sơ tài liệu trình đến Thường trực và các ban để tổ chức thẩm tra. Do các nội dung của nghị quyết chuyên đề không quá phụ thuộc vào thời điểm hoàn thành nên cần quy định gửi tài liệu sớm hơn (chứ không phải trước 15 ngày theo quy định thông thường) để các ban có đủ thời gian thẩm tra.

Bốn là, trong thẩm tra, các ban HĐND cần tranh thủ huy động sự tham gia đóng góp của các chuyên gia, các cơ quan quản lý của Trung ương và phối hợp tốt hơn sự tham gia của các ban. Báo cáo thẩm tra của các ban phải rõ quan điểm, nội dung đồng tình, nội dung chưa đồng tình, nội dung bổ sung và lý do...

Năm là, trong tổ chức thảo luận và quyết nghị tại kỳ họp, cần đặc biệt làm rõ mục đích sau ban hành nghị quyết chuyên đề, đối tượng chịu sự tác động, mức độ tác động tích cực và những ảnh hưởng tiêu cực khi thực hiện nghị quyết, nguồìn lực thực hiện và khả năng tổ chức thực hiện hay tính khả thi của nghị quyết.

Sáu là, đối với mỗi nghị quyết chuyên đề được ban hành, Thường trực HĐND cần phân công các ban theo dõi tình hình triển khai thực hiện, có kế hoạch giám sát tình hình thực hiện để kịp thời chỉ đạo, đôn đốc hoặc kiến nghị HĐND điều chỉnh nội dung nghị quyết để bảo đảm phát huy hiệu quả thiết thực.

 

Lượt xem: 392

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.