Một số khó khăn, vướng mắc trong triển khai Luật Thủ đô

Để tháo gỡ khó khăn trong thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách đầu tư cho các công trình trọng điểm của Thủ đô, đề nghị Ngân sách Trung ương xem xét, hỗ trợ cho Thành phố đầu tư một số công trình, dự án quan trọng về môi trường, giao thông, thủy lợi, có quy mô lớn do Thành phố quản lý vượt quá khả năng cân đối của ngân sách địa phương (theo nguyên tắc đã quy định tại Điều 21 Luật Thủ đô)...

Luật Thủ đô là văn bản pháp lý đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với Hà Nội, trong đó quy định nhiều cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tạo động lực cho sự nghiệp xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô.

UBND thành phố Hà Nội vừa có văn bản báo cáo kết quả thực hiện Luật Thủ đô, đánh giá cho thấy, Luật Thủ đô và các Nghị quyết của HĐND, Quyết định của UBND Thành phố được ban hành theo đúng tiến độ đã tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của chính quyền và nhân dân Thủ đô. Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật Thủ đô và các văn bản quy định chi tiết tiếp tục được UBND Thành phố quan tâm, chỉ đạo, đã tiến hành triển khai sâu, rộng, có trọng tâm, trọng điểm, bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp với đối tượng. Luật Thủ đô đã được các tầng lớp nhân dân Thủ đô biết và hưởng ứng, góp phần đưa Thủ đô văn minh, hiện đại, phát triển.

Các cơ chế chính sách được ban hành triển khai toàn diện, đã và đang từng bước đi vào cuộc sống, có tác động tích cực trong việc xây dựng, quản lý và phát triển Thủ đô. Một số cơ chế chính sách đặc thù của Thành phố như: Xây dựng cơ sở giáo dục công lập chất lượng cao, chính sách trọng dụng nhân tài, phát triển hệ thông vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn, quy định liên quan đến biện pháp bảo đảm quy hoạch, quản lý đất đai, không gian, kiến trúc, cảnh quan và xây dựng đô thị... đã được triển khai và có tác động tích cực. Các ngành, các cấp chính quyền đã quan tâm, tập trung nguồn lực để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa quy định trong Danh mục phố cổ, làng cổ, làng nghề truyền thống tiêu biểu, biệt thự cũ, công trình kiến trúc khác xây dựng trước năm 1954 và di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn Thủ đô, qua đó đã tác động tích cực đến nhận thức, trách nhiệm của nhân dân Thủ đô. Các cơ chế đặc thù quy định trong Luật bước đầu đã giúp cho thành phố Hà Nội chủ động hơn trong ưu tiên đầu tư thu hút các nguồn lực để phát huy tiềm năng, thế mạnh Thủ đô, vùng Thủ đô…

Tuy nhiên, quá trình triển khai đã xuất hiện những tồn tại, khó khăn, vướng mắc. Tiêu biểu là về tỷ lệ 25% diện tích đất ở, nhà ở để phát triển nhà ở xã hội trong các dự án phát triển nhà ở thương mại trên 10ha theo quy định tại Nghị quyết số 06/2013/NQ-HĐND của HĐND Thành phố, trong quá trình thực hiện đã gặp vướng mắc. Đó là đối với một số dự án xây dựng các khu đô thị, dự án nhà ở cao cấp thì việc bố trí 25% diện tích đất ở hoặc 25% quỹ sàn nhà ở để phát triển nhà ở xã hội trong cùng dự án rất khó. Bởi vì quy hoạch dự án nhà ở, khu đô thị cao cấp và nhà ở xã hội là không tương thích với nhau trong khi chung hạ tầng kỹ thuật. Hơn nữa do chung hạ tầng kỹ thuật cho nên giá căn hộ, giá dịch vụ trong khu đô thị hoặc dự án nhà ở cao cấp là rất cao so với mặt bằng chung thu nhập của người dân là đối tượng được mua nhà xã hội. Để giải quyết vấn đề này đề nghị HĐND Thành phố cho phép đối với các Dự án khu đô thị, nhà ở cao cấp có diện tích trên 10ha thì Chủ đầu tư được lựa chọn chuyển giao diện tích nhà ở, đất ở theo tỷ lệ quy định tại Nghị quyết 06/2013/NQ-HĐND của HĐND Thành phố hoặc được nộp tiền tương đương với giá diện tích phải dành phát triển nhà ở xã hội của Thành phố.

Về ban hành văn bản cụ thể hóa Luật Thủ đô, UBND Thành phố đang hoàn thiện Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chuẩn về quy hoạch, kiến trúc đối với khu vực 4 quận Ba Đình, Đống Đa, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng. Tuy nhiên, đây là văn bản có nội dung nghiên cứu phức tạp được thực hiện theo Luật Thủ đô, bị chi phối bởi Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật và hệ thống các Quy chuẩn Quốc gia, Tiêu chuẩn Việt Nam do Bộ Xây dựng và các Bộ khác ban hành. Mặt khác, đây cũng là hệ thống các chỉ tiêu kỹ thuật để điều tiết việc quy hoạch xây dựng tại khu vực rất đặc thù và nhạy cảm là khu vực nội đô lịch sử. Do đó, mặc dù Dự thảo đã thực hiện đầy đủ các quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, lấy ý kiến bằng nhiều hình thức của các sở, ngành, các cơ quan, đơn vị và đăng tải trên trang điện tử, nhiều lần tiếp thu và hoàn chỉnh theo ý kiến góp ý của các Bộ nhưng đến nay vẫn còn nhiều ý kiến, Bộ Xây dựng chưa thống nhất, nên thời gian xây dựng văn bản chưa đảm bảo theo đúng kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ.

Về Nghị quyết của HĐND Thành phố quy định mức tiền phạt đối với một số hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai chưa được ban hành. Nguyên nhân, mặc dù ngày 10/11/2014 Chính phủ ban hành Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Tuy nhiên, do mức xử phạt tại Nghị định đã tăng gấp 2 lần so với quy định trước đây nên UBND Thành phố chỉ đạo các sở, ngành tiêp tục nghiên cứu để xây dựng dự thảo Nghị quyết và trình HĐND Thành phố ban hành vào năm 2016.

Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế Thủ đô, nhu cầu đầu tư cho các dự án trọng điểm của Hà Nội luôn là rất lớn; riêng năm 2014 khoảng 28.000 tỷ đồng, trong đó ngân sách Thành phố là 20.800 tỷ đồng (theo kế hoạch đầu tư trung hạn 3 năm 2013-2015 đã được HĐND Thành phố thông qua Nghị quyết) với nhiều dự án quy mô lớn, đặc biệt là sau khi mở rộng địa giới thành phố Hà Nội, cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn còn khó khăn, nguồn vốn đầu tư hạn chế so với yêu cầu. Do đó, việc thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách của Thành phố gặp nhiều khó khăn.

Bên cạnh đó, việc thực hiện cải tạo, xây dựng lại khu chung cư cũ, nhà cũ xuống cấp còn gặp nhiều hạn chế, do phải tuân thủ về độ cao, mật độ dân cư, mật độ xây dựng theo quy hoạch, trong khi đó yêu cầu về diện tích tái định cư tại chỗ của các hộ dân, nên không thu hút được nguồn đầu tư. Cơ chế về sắp xếp, xử lý nhà đất thuộc sở hữu nhà nước và xác định nghĩa vụ tài chính các dự án: Hiện nay, trên địa bàn Thành phố có nhiều trụ sở của các bộ, ngành Trung ương, đóng trên địa bàn đang thực hiện sắp xếp, di dời theo Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ các diện tích đất sau khi di dời vừa qua phần lớn được đầu tư các công trình nhà ở, trung tâm thương mại, do đó ảnh hưởng rất lớn đến quy hoạch chung Thủ đô. Nguồn thu tiền sử dụng đất các dự án này được dùng để đầu tư trở lại cho các bộ, ngành là chưa phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước và Điều 15 Luật Thủ đô.

Đối với công tác quản lý dân cư, theo quy định của Luật Thủ đô và Nghị quyết số 11/2013/NQ-HDND ngày 17/7/2013 của HĐND Thành phố quy định diện tích ở bình quân đối với nhà thuê ở nội thành để công dân được đăng ký thường trú ở nội thành thành phố Hà Nội đến hết năm 2015 tối thiểu là 15m2/đầu người. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có mẫu văn bản xác định diện tích ở bình quân.

Việc triển khai các quy định của Luật Thủ đô và văn bản cụ thể hóa Luật Thủ đô của Thành phố trong lĩnh vực giáo dục mặc dù đã có chuyển biến nhưng còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là ở các huyện ngoại thành. Tiến độ công nhận trường chât lượng cao còn chậm do đây là mô hình mới, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên còn thiếu kinh nghiệm, việc đầu tư xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất đòi hỏi về thời gian...

Ngoài ra, một số hành vi gây bức xúc dư luận trên địa bàn Thủ đô như treo, đặt, dán, vẽ các sản phẩm quảng cáo trên cột điện, trụ điện, cột tín hiệu giao thông và cây xanh nơi công cộng; quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan, trật tự an toàn giao thông, an toàn xã hội... lại “không thuộc lĩnh vực văn hóa”, không được quy định trong Nghị quyết nâng mức tiền phạt đối với một số hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa. Một số hành vi như: Quảng cáo, viết vẽ bên ngoài nhà ở trái quy định; phóng uế bừa bãi, xả rác thải, nước thải, khí thải chất độc bừa bãi gây ô nhiễm mỗi trường... là những hành vi vi phạm có tính chất bức xúc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến mỹ quan, trật tự đô thị, thường xảy ra trên địa bàn Thành phố, rất cần được xử phạt nặng hơn nhưng “không thuộc nhóm hoạt động xây dựng” để có thể nâng mức phạt tiền theo Khoản 2 Điều 20 Luật Thủ đô. Do vậy, cần nghiên cứu việc bổ sung Khoản 2 Điều 20 Luật Thủ đô về lĩnh vực quảng cáo, xây dựng...nhằm giải quyết những bức xúc. 

Để đảm bảo tính đồng bộ trong việc triển khai thi hành Luật Thủ đô, UBND Thành phố kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành tiếp tục phối hợp với thành phố Hà Nội hoàn thiện dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn về quy hoạch, kiến trúc đối với khu vực cải tạo, tái thiết đô thị tại các quận: Ba Đình, Hoàn Kiếm, Đống Đa và Hai Bà Trưng trình Chính phủ hoặc ban hành theo thẩm quyền để kịp thời triển khai trên thực tế.

Để tháo gỡ khó khăn trong thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách đầu tư cho các công trình trọng điểm của Thủ đô, đề nghị Ngân sách Trung ương xem xét, hỗ trợ cho Thành phố đầu tư một số công trình, dự án quan trọng về môi trường, giao thông, thủy lợi, có quy mô lớn do Thành phố quản lý vượt quá khả năng cân đối của ngân sách địa phương (theo nguyên tắc đã quy định tại Điều 21 Luật Thủ đô). Đề nghị Bộ Tài chính nghiên cứu, báo cáo Chính phủ sửa đổi quy định tại Quyết định số 09/2007/QĐ-TTg và Quyết định số 140/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho phù hợp với quy định của Luật Thủ đô: Đó là giao các cơ sở nhà đất sau khi thực hiện sắp xếp cho Thành phố để thực hiện đầu tư các công trình hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật theo quy hoạch.

Về thực hiện hỗ trợ di dời các cơ sở gây ô nhiễm môi trường không phù hợp với quy hoạch: Đề nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét sửa đổi Quyết định số 86/2010/QĐ-TTg ngày 22/12/2010 theo nguyên tắc chỉ hỗ trợ tối đa 50% tiền sử đụng đất thu được tại vị trí cũ để đầu tư các dự án tại cơ sở mới. Phần còn lại ngân sách các địa phương được hưởng để đầu tư các cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của khu vực dự án…

Toàn văn báo cáo triển khai thực hiện Luật Thủ đô xem tại đây

 MINH ĐỨC

Lượt xem: 552

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.