Nâng cao chất lượng ban hành và tính khả thi các nghị quyết của HĐND

Việc lựa chọn nội dung để ban hành nghị quyết trên cơ sở định hướng, chỉ đạo của cấp ủy, quy hoạch chiến lược tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và xuất phát từ yêu cầu thực tế, giải quyết nhiệm vụ cụ thể về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương; vấn đề phải thực sự cần thiết, cấp bách, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân và yêu cầu đòi hỏi của cuộc sống, công tác quản lý xã hội…

Nghị quyết Hội đồng nhân dân là văn bản pháp lý quan trọng của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, là văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo nội dung, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định tại Luật ban hành văn bản Quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân. Nghị quyết HĐND ban hành nhằm cụ thể hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là cơ sở để UBND ban hành các quyết định trong quá trình chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Trong thời gian qua, hầu hết các nghị quyết của HĐND được thông qua đến nay được thực tế khẳng định là đúng đắn, phù hợp và đi vào cuộc sống, góp phần đáng kể cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh ở địa phương. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một số nghị quyết vì nhiều nguyên nhân khác nhau nên quá trình triển khai thực hiện chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Trong đó có nguyên nhân do một số cơ quan soạn thảo chuẩn bị dự thảo nghị quyết của HĐND còn sơ sài, mang tính hình thức nên có nghị quyết phải trình nhiều lần mới được thông qua làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ quản lý nhà nước ở địa phương. Có nghị quyết là văn bản QPPL nhưng nội dung còn chung chung, thiếu cụ thể, gây khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện. Để nghị quyết đảm bảo tính khả thi và đạt hiệu quả cao, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, đặc biệt phải đảm bảo đúng quy trình, từ khâu xây dựng đề án; soạn thảo, thẩm tra, thông qua nghị quyết; tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết…

Trước hết, phải xác định những nội dung, lĩnh vực cần ban hành nghị quyết: Việc lựa chọn nội dung để ban hành nghị quyết trên cơ sở định hướng, chỉ đạo của cấp ủy, quy hoạch chiến lược tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và xuất phát từ yêu cầu thực tế, giải quyết nhiệm vụ cụ thể về kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương; vấn đề phải thực sự cần thiết, cấp bách, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân và yêu cầu đòi hỏi của cuộc sống, công tác quản lý xã hội… Đặc biệt, phải làm rõ mục đích của việc ban hành nghị quyết, đối tượng và mức độ tác động đến các đối tượng, các nguồn lực, khả năng của địa phương bảo đảm nghị quyết được thực thi để đưa vào chương trình ban hành nghị quyết hàng năm của HĐND tại kỳ họp cuối năm trước.

Hai là, nâng cao chất lượng soạn thảo đề án, dự thảo nghị quyết: Sau khi đã thống nhất giữa UBND và HĐND về những nội dung cần ban hành trình tại kỳ họp, UBND giao cho cơ quan chuyên môn soạn thảo tờ trình, đề án và dự thảo nghị quyết. Trước khi xây dựng đề án các cơ quan chủ trì việc soạn thảo phải thực hiện theo đúng quy trình; tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng; thu thập thông tin; tổ chức lấy ý kiến các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết; mục tiêu đề ra phải sát thực tế và có tính khả thi cao; phù hợp với khả năng ngân sách của địa phương. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy phải chú trọng làm tốt việc khảo sát, tham vấn ý kiến nhân dân đối với những nội dung thuộc về cơ chế, chính sách thì nghị quyết khi ban hành mới phù hợp với thực tiễn và có tính khả thi cao. 

Ba là, phối hợp tốt với UBND và các cơ quan liên quan trong xây dựng dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án, tờ trình, tài liệu trình kỳ họp. Thường trực HĐND nên phân công các Ban HĐND chủ động vào cuộc, phối hợp ngay từ đầu với các cơ quan chuyên môn của UBND trong việc chuẩn bị nội dung cho kỳ họp; chủ động tham dự các cuộc họp, hội thảo do các ngành và UBND tổ chức để nắm bắt thông tin, tham gia, góp ý kiến ngay từ khâu soạn thảo báo cáo, đề án, tờ trình và dự thảo nghị quyết trình HĐND. Phối hợp chặt chẽ với UBND Thành phố trong suốt quá trình chuẩn bị mọi mặt cho kỳ họp; trước khi khai mạc kỳ họp từ 7-10 ngày, Thường trực HĐND và UBND nên tổ chức họp để rà soát lại toàn bộ công việc chuẩn bị cho kỳ họp, thông tin về những vấn đề cần quan tâm qua thẩm tra của các Ban, đối với những nội dung chuẩn bị chưa chu đáo, quan điểm chưa thống nhất, còn nhiều ý kiến băn khoăn cần đưa ra bàn bạc và thống nhất hướng xử lý những vấn đề có thể phát sinh trong thảo luận tại kỳ họp HĐND.

Bốn là, nâng cao chất lượng các báo cáo thẩm tra của các ban HĐND: Hoạt động thẩm tra của các Ban HĐND đóng vai trò quan trọng trong việc thông qua nghị quyết của HĐND. Thực tế đòi hỏi hoạt động thẩm tra của các Ban phải được chú trọng, nhằm phát hiện những vấn đề chưa phù hợp, giúp đại biểu tập trung thảo luận và quyết định đúng. Để làm được điều này đòi hỏi các ban HĐND phải chủ động tham gia ngay từ đầu với các sở, ngành trong quá trình chuẩn bị xây dựng đề án, dự thảo nghị quyết; tổ chức hội thảo, làm việc với các cơ quan liên quan, tham vấn ý kiến của chuyên gia, các đối tượng chịu sự điều chỉnh và cử tri đối với những vấn đề quan trọng. Báo cáo thẩm tra tập trung phân tích, phản biện và nêu rõ chính kiến của các ban HĐND (những vấn đề tán thành, không tán thành, nội dung cần bổ sung, hoàn chỉnh và lý do cụ thể; những vấn đề còn ý kiến khác nhau và đề xuất phương án xử lý). Đối với những vấn đề còn băn khoăn, các Ban phải kiên quyết đề nghị không đưa vào chương trình nghị sự và trình HĐND thông qua vào kỳ họp  sau, nhằm đảm bảo tính khả thi của nghị quyết. Các báo cáo thẩm tra phải thực sự là cơ sở tin cậy để các đại biểu HĐND thảo luận và quyết định.

Năm là, nâng cao vai trò của đại biểu trong quyết định tại kỳ họp: Vai trò của đại biểu có ý nghĩa quan trọng trong việc thảo luận và quyết định tại các kỳ họp của HĐND. Thực tế cho thấy, để nâng cao hiệu quả của nghị quyết HĐND thì vấn đề cốt lõi là nâng cao trình độ và bản lĩnh của đại biểu. Chỉ khi đại biểu HĐND hiểu chính xác, nắm rõ vấn đề và dũng cảm, tự tin bảo vệ quan điểm chính đáng của mình thì HĐND mới có được những quyết định đúng và có khả năng thực thi cao. Cần cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, tạo thuận lợi cho đại biểu nghiên cứu, quyết nghị.

Sáu là, chú trọng công tác triển khai thực hiện nghị quyết: sau kỳ họp, các tổ đại biểu và đại biểu HĐND cần phối hợp với chính quyền các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể, cơ quan chuyên môn tiến hành tiếp xúc cử tri để tuyên truyền nghị quyết tới các tầng lớp nhân dân; kết hợp tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng như đài truyền hình, đài truyền thanh, báo in, Cổng thông tin điện tử của Thành phố, Trang thông tin điện tử của Văn phòng Đoàn ĐBQH& HĐND, nhằm tạo sự đồng thuận, ủng hộ của nhân dân trong quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết. UBND và các cơ quan chuyên môn cần xây dựng kế hoạch, hướng dẫn kịp thời, sát thực và đúng nội dung, tinh thần của nghị quyết. Khi cần thiết hoặc theo lộ trình giai đoạn của nghị quyết cần có sơ kết, tổng kết đánh giá việc thực hiện nghị quyết.

Bảy là, tăng cường giám sát việc thực hiện các nghị quyết đã ban hành:Sau khi nghị quyết của HĐND được ban hành, Thường trực, các ban HĐND cần thường xuyên giám sát quá trình triển khai thực hiện các nghị quyết; kịp thời nắm bắt những khó khăn, vướng mắc để kiến nghị giải pháp khắc phục. Tránh tình trạng ban hành nghị quyết nhưng không kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện của cơ quan chấp hành, làm giảm hiệu lực hoạt động của HĐND, mất lòng tin của người dân vào quyết sách của cơ quan dân cử./.

TÚ ANH

Lượt xem: 640

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.