Nâng cao chất lượng hoạt động đối với các Ban của HĐND - Kinh nghiệm của HĐND TP Hà Nội

Thường trực HĐND Thành phố đã thực hiện tốt công tác điều hòa hoạt động của HĐND; chỉ đạo sát sao, lựa chọn cụ thể nội dung, đối tượng và thời gian triển khai các đợt giám sát, khảo sát của Thường trực, các Ban HĐND để đạt hiệu quả cao nhất, phù hợp với tình hình thực tế. Hàng năm, Thường trực, các Ban HĐND xây dựng, triển khai chương trình, kế hoạch hoạt động theo từng tháng, quý, năm để thuận lợi, chủ động trong công tác triển khai và phối hợp thực hiện đồng bộ, hiệu quả...

Theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND, HĐND cấp tỉnh, huyện thành lập các Ban theo lĩnh vực: HĐND cấp tỉnh có 3 ban (hoặc có thêm Ban Dân tộc đối với địa bàn đủ điều kiện); HĐND cấp huyện có 2 ban. Các Ban HĐND có nhiệm vụ tham gia chuẩn bị kỳ họp của HĐND, thẩm tra các báo cáo, tờ trình và giúp HĐND giám sát về những nội dung thuộc lĩnh vực của Ban… Như vậy, hoạt động của các Ban HĐND có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của HĐND, Thường trực HĐND, đặc biệt trong việc thực hiện hai chức năng cơ bản và quan trọng của HĐND, đó là chức năng quyết định và chức năng giám sát.

Tuy nhiên, năng lực và hiệu quả hoạt động của mỗi ban HĐND phụ thuộc vào tổ chức bộ máy; cơ chế điều hành hoạt động, việc giải quyết mối quan hệ giữa Ban với các Ban khác, với Thường trực HĐND và các điều kiện phục vụ cần thiết khác cho quá trình hoạt động. Trong thời gian qua, thực tế ở nhiều nơi, điều kiện đảm bảo hoạt động của các Ban HĐND còn chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cả ba nhân tố nêu trên đều ở tình trạng còn những hạn chế, bất cập: Đội ngũ chuyên trách của các Ban quá mỏng; một số thành viên Ban là lãnh đạo các cơ quan hành chính; năng lực, trình độ của một số đại biểu còn hạn chế; chưa chủ động trong phối hợp hoạt động giữa các ban; việc bố trí văn phòng giúp việc các Ban còn có những bất cập…

Đối với thành phố Hà Nội, HĐND Thành phố thành lập 3 Ban là: Kinh tế - Ngân sách, Pháp chế, Văn hóa - Xã hội (do thành phố Hà Nội tỷ lệ người dân tộc ít nên Ban Văn hóa - Xã hội theo dõi cả lĩnh vực chính sách dân tộc). Ngay từ đầu nhiệm kỳ 2011 – 2016, mỗi ban được bố trí 01 Trưởng ban hoạt động chuyên trách, 02 Phó Trưởng ban (01 chuyên trách và 01 kiêm nhiệm), 01 Ủy viên chuyên trách. Thực hiện Đề án 04-ĐA/TU của Ban Thường vụ Thành ủy về Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của HĐND các cấp thành phố Hà Nội, số đại biểu hoạt động chuyên trách của các ban HĐND được tăng cường. Tại kỳ họp thứ 7 HĐND TP tháng 7/2013, mỗi Ban HĐND được bổ sung thêm 01 Phó Trưởng ban chuyên trách (bầu Ủy viên chuyên trách làm Phó trưởng ban), nâng tổng số lãnh đạo chuyên trách của các Ban HĐND lên 09 người nên hoạt động của các Ban có tính chuyên sâu hơn, chủ động hơn trong công việc của HĐND; chất lượng thẩm tra, giám sát được nâng cao hơn. Đại biểu chuyên trách có điều kiện để nghiên cứu sâu các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nắm vững tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn, phục vụ đắc lực, hiệu quả hoạt động của HĐND Thành phố.

Thường trực HĐND Thành phố đã thực hiện tốt công tác điều hòa hoạt động của HĐND. Duy trì đều đặn lịch giao ban giữa Thường trực HĐND, các Ban HĐND và Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND TP giữa hai kỳ họp; chỉ đạo sát sao, lựa chọn cụ thể nội dung, đối tượng và thời gian triển khai các đợt giám sát, khảo sát của Thường trực, các Ban HĐND để đạt hiệu quả cao nhất, phù hợp với tình hình thực tế của từng đơn vị. Hàng năm, Thường trực, các Ban HĐND xây dựng, triển khai chương trình, kế hoạch hoạt động theo từng tháng, quý, năm để thuận lợi, chủ động trong công tác triển khai và phối hợp thực hiện đồng bộ, hiệu quả.

Về chuyên viên giúp việc các ban, ở Hà Nội, Văn phòng Đoàn ĐBQH & HĐND Thành phố bố trí mỗi Ban có từ 2 - 3 chuyên viên làm công tác tham mưu, giúp việc đã giúp giữ mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ giữa Thường trực HĐND với Ban, giữa các Ban với Văn phòng, tham mưu công tác giữa các ban, góp phần tích cực đối với hoạt động của các Ban HĐND.

Từ thực tế tổ chức và hoạt động của HĐND thành phố Hà Nội, để các Ban hoạt động có chất lượng, hiệu quả, cần có những điều kiện đảm bảo cần thiết sau:

1. Tăng số lượng đại biểu chuyên trách cho các Ban HĐND. Trưởng ban HĐND cấp tỉnh nên cơ cấu là cấp ủy viên cùng cấp. Đồng thời các Ban cần chủ động tham mưu, đề xuất với Thường trực HĐND trong việc lựa chọn thành phần của các Ban, bố trí cơ cấu đảm bảo đại biểu vừa có chuyên môn sâu và vừa có kinh nghiệm trong thực tiễn. Giảm bớt thành phần là lãnh đạo các cơ quan chuyên môn của UBND.

2. Tăng cường vai trò chỉ đạo, điều hòa hoạt động của Thường trực HĐND đối với các Ban. Có hình thức khen, chê, nhắc nhở về hoạt động của các Ban cũng như sự tham gia vào hoạt động Ban của các thành viên, nhất là các thành viên kiêm nhiệm. Đồng thời, nâng cao trách nhiệm của trưởng, phó và thành viên các ban trong xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch hoạt động thường kỳ và chuyên đề của ban. Trưởng ban, Phó trưởng ban phải chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức, điều hành hoạt động của ban, bám sát nhiệm vụ chính trị, nghị quyết của HĐND để chủ động lựa chọn nội dung hoạt động có trọng tâm, trọng điểm, sát thực tiễn và có tính khả thi. Chương trình, kế hoạch hoạt động của các ban phải gắn kết chung với chương trình, kế hoạch hoạt động của Thường trực HĐND, của Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND, bảo đảm sự phối hợp hiệu quả hoạt động với các cơ quan liên quan của địa phương và của Trung ương.

3. Tăng cường phối hợp hoạt động giữa các ban, đối với những vấn đề lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực, Thường trực HĐND giao một Ban chủ trì, phối hợp cùng các Ban và các cơ quan liên quan nghiên cứu, tham mưu hoặc giải quyết. Duy trì chế độ giao ban công tác hàng tuần giữa Thường trực HĐND với lãnh đạo các Ban và Văn phòng, bảo đảm đúng chương trình, kế hoạch công tác.

4. Bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho đại biểu, tập huấn, hướng dẫn về các chính sách, quy định của pháp luật; tổ chức hội nghị giao ban giữa các Ban HĐND các cấp để trao đổi kinh nghiệm công tác. Cung cấp đầy đủ thông tin cho các thành viên Ban

5. Quan tâm về điều kiện làm việc cho các ban: Lựa chọn, bố trí đủ chuyên viên Văn phòng giúp việc cho các Ban, cố gắng bố trí mỗi ban ít nhất 03 chuyên viên giúp việc cũng như các điều kiện phục vụ hoạt động cho các ban

6. Trên cơ sở tham mưu của Văn phòng và nhu cầu thực tế của các ban, Thường trực HĐND có quy định cụ thể về kinh phí cho hoạt động của các ban như: kinh phí cho việc nghiên cứu phục vụ công tác thẩm tra, kinh phí cho hoạt động giám sát…để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các Ban HĐND./.

 

Hoàng Thị Tú Anh

Lượt xem: 499

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.