Nâng cao chất lượng trả lời, giải quyết kiến nghị của cử tri

Tại 02 cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp thứ 2 HĐND Thành phố đã tổng hợp được 471 kiến nghị của cử tri và ý kiến, kiến nghị của cử tri với HĐND và các cơ quan nhà nước hữu quan ở địa phương, tập trung vào các lĩnh vực: kinh tế; quy hoạch, quản lý, phát triển đô thị; đất đai, môi trường, giải phóng mặt bằng; lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế; tổ chức bộ máy, cơ chế chính sách...

Trong thời gian qua, Thường trực HĐND Thành phố phối hợp chặt chẽ với Ban thường trực Uỷ ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội và các quận, huyện, thị xã tổ chức để đại biểu HĐND Thành phố tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp thứ 2 HĐND Thành phố, khóa XVI, nhiệm kỳ 2021-2026 theo đúng quy định và đảm bảo công tác phòng, chống dịch Covid-19 với phương án tổ chức tiếp xúc cử tri được thực hiện bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến theo đơn vị bầu cử.

Tại 02 đợt tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp thứ 2 HĐND Thành phố, Thường trực HĐND Thành phố đã tổng hợp được 471 kiến nghị của cử tri với HĐND, UBND Thành phố (trong đó có: 273 kiến nghị trước kỳ họp và 198 kiến nghị sau kỳ họp). Kiến nghị của cử tri tập trung vào các lĩnh vực: kinh tế; quy hoạch, quản lý, phát triển đô thị; đất đai, môi trường, giải phóng mặt bằng; lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục, y tế; tổ chức bộ máy, cơ chế chính sách và các kiến nghị phản hồi đối với trả lời của UBND Thành phố. Thường trực HĐND Thành phố có văn bản đề nghị UBND Thành phố nghiên cứu, chỉ đạo, giải quyết và có báo cáo bằng văn bản đối với từng nhóm kiến nghị chung, kiến nghị riêng của từng quận, huyện, thị xã vào để báo cáo cử tri vào kỳ họp cuối năm 2021.

Việc tiếp thu, giải quyết và trả lời các ý kiến, kiến nghị luôn được Thường trực HĐND Thành phố quan tâm, chỉ đạo, góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, từng bước thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, đáp ứng ngày càng tốt hơn tâm tư, nguyện vọng của cử tri, tạo niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Bên cạnh những kết quả tích cực đạt được vẫn còn một số tồn tại, hạn chế trong công tác này: nhiều vấn đề cử tri đã kiến nghị nhiều lần nhưng việc giải quyết, trả lời hoặc tham mưu cấp có thẩm quyền giải quyết, trả lời vẫn còn chậm; có trường hợp các cơ quan chỉ trích dẫn quy định của pháp luật, giải thích sơ sài; có trường hợp không phối hợp với các đơn vị có liên quan để giải quyết, chỉ báo cáo trong văn bản là trách nhiệm giải quyết thuộc về đơn vị khác, không phối hợp giải quyết cụ thể những vấn đề cử tri đang kiến nghị.

Để khắc phục những vấn đề tồn tại, nâng cao chất lượng trả lời, giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri, các cơ quan, ban ngành liên quan có thẩm quyền được giao giải quyết phải quán triệt, rà soát việc giải quyết, trả lời các ý kiến, kiến nghị của cử tri là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác chỉ đạo, điều hành của đơn vị, địa phương mình; chú trọng đến chất lượng văn bản trả lời các ý kiến, kiến nghị của cử tri, nhất là các kiến nghị có liên quan trực tiếp đến đời sống dân sinh mà cử tri kiến nghị nhiều lần, không để vụ việc tồn đọng, lặp đi lặp lại, gây mất lòng tin của nhân dân đối với chính quyền.

Khi nhận được ý kiến, kiến nghị của cử tri, phải rà soát kỹ nội dung, kiểm tra, khảo sát thực tế, phối hợp với các ngành liên quan trả lời đúng trọng tâm nội dung kiến nghị để cử tri tiện theo dõi. Nội dung trả lời phải ngắn gọn, dễ hiểu, đúng với các quy định của pháp luật và phù hợp với tình hình thực tế; không né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, tránh tình trạng gây bức xúc thêm cho cử tri hoặc cử tri phải kiến nghị nhiều lần về một vấn đề. Những nội dung đã hứa trong văn bản trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri thì phải triển khai thực hiện và giải quyết thỏa đáng.

Bên cạnh đó, cần tiếp tục nâng cao chất lượng công tác tiếp xúc cử tri; đại biểu HĐND nâng cao vai trò, trách nhiệm trong việc giải thích, hướng dẫn cử tri ngay tại buổi tiếp xúc; hạn chế việc chuyển kiến nghị cử tri có nội dung không rõ ràng, không đúng thẩm quyền hoặc đã được trả lời, giải thích nhưng tiếp tục kiến nghị.

Thực hiện tốt các các yêu cầu nêu trên sẽ giúp cho HĐND, UBND thể hiện vai trò của mình trong việc đảm bảo chất lượng giải quyết kiến nghị của cử tri, đảm bảo các kiến nghị cử tri đã tin tưởng gửi đến đại biểu HĐND luôn được giải quyết, trả lời thỏa đáng.

Lượt xem: 4580

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.