Phát huy vai trò của Thường trực HĐND trong phân công, điều hòa hoạt động giám sát chuyên đề, đột xuất của các Ban, các Tổ đại biểu HĐND

Thường trực HĐND Thành phố họp thống nhất chỉ đạo ngay từ khâu chuẩn bị xây dựng Chương trình giám sát; thống nhất ban hành Chương trình kế hoạch công tác giám sát chung của cả HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND thực hiện trong cả năm, lộ trình triển khai được chia theo từng tháng, quý; bảo đảm không bị trùng lặp, chồng chéo về nội dung, đối tượng, địa điểm, thời gian giám sát; không làm ảnh hưởng đến hoạt động của chủ thể chịu sự giám sát...

Thực tiễn trước đây, các quy định về giám sát của các Ban HĐND, đại biểu HĐND nằm rải rác ở các văn bản dưới luật, không được luật hóa, các Ban HĐND giám sát độc lập và chịu trách nhiệm trước HĐND và chỉ báo cáo để Thường trực HĐND biết nên hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát của HĐND không cao, còn nhiều bất cập. Nhưng kể từ khi Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND ra đời đã khắc phục cơ bản những bất cập cập về thể chế trong lĩnh vực giám sát. Nội dung Luật không chỉ có tính hệ thống hóa mà còn quy định nhiều vấn đề mới, cụ thể. Trong đó, đã bổ sung quy định mang tính nguyên tắc, làm rõ tính chất về hiệu quả hoạt động giám sát, đó là giám sát của HĐND là hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước.Đồng thời, bổ sung quy định về: chủ thể chịu sự giám sát; trách nhiệm của đối tượng chịu sự giám sát; thời hạn các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát phải thực hiện các yêu cầu, kiến nghị giám sát đối với từng hoạt động giám sát; trình tự, thủ tục giám sát và đặc biệt làm rõ khái niệm “giám sát” quy định theo hướng không chỉ là hoạt động “theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát” mà còn bao gồm cả việc “xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý”. Những quy định mới này mang tính truy cứu đến cùng trách nhiệm của đối tượng chịu sự giám sát, nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động giám sát của HĐND các cấp.

Luật cũng đã sửa đổi, bổ sung về hình thức giám sát và quy định chi tiết về trình tự, thủ tục tiến hành giám sát như: giám sát chuyên đề; báo cáo, chất vấn, lấy phiếu tín nhiệm); xem xét việc trả lời chất vấn của người bị chất vấn trong thời gian giữa hai kỳ họp HĐND; giải trình tại phiên họp Thường trực HĐND; giám sát việc giải quyết kiến nghị của cử tri. Bổ sung quy định trách nhiệm của Thường trực HĐND trong việc chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động giám sát. Những quy định mới này mang tính truy cứu đến cùng trách nhiệm của đối tượng chịu sự giám sát, nhằm tăng cường hiệu quả của hoạt động giám sát của HĐND các cấp nói chung và của Thường trực HĐND, các Ban HĐND, Tổ đại biểu HĐND nói riêng.

Tiếp tục kế thừa kinh nghiệm kết hợp với những quy định mới của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND, hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND, Tổ đại biểu HĐND thành phố Hà Nội được triển khai thực hiện thống nhất theo trình tự. Vai trò của Thường trực HĐND trong chỉ đạo, phân công, điều hòa hoạt động giám sát chuyên đề, đột xuất của các Ban, các Tổ đại biểu HĐND thể hiện rõ nét. Trong đó, về hoạt động giám sát chuyên đề: Thường trực HĐND Thành phố họp thống nhất chỉ đạo ngay từ khâu chuẩn bị xây dựng Chương trình giám sát; thống nhất ban hành Chương trình kế hoạch công tác giám sát chung của cả HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND thực hiện trong cả năm, lộ trình triển khai được chia theo từng tháng, quý; bảo đảm không bị trùng lặp, chồng chéo về nội dung, đối tượng, địa điểm, thời gian giám sát; không làm ảnh hưởng đến hoạt động của chủ thể chịu sự giám sát. Trong cùng thời điểm giám sát, Thường trực cũng như các Ban HĐND Thành phố không thực hiện đồng thời giám sát tại một địa phương.

Quá trình thực hiện Thường trực HĐND Thành phố phân công một ban chủ trì tham mưu, các ban khác phối hợp thực hiện, đồng thời Thường trực HĐND Thành phố chỉ đạo các Ban HĐND căn cứ trên cơ sở kế hoạch giám sát của kế hoạch giám sát của HĐND, Thường trực HĐND và lĩnh vực Ban HĐND phụ trách, mỗi Ban lựa chọn từ 6 đến 8 vấn đề để thực hiện giám sát. Để đảm bảo công tác phân công, điều hòa cũng như sự phối hợp chặt chẽ trong công tác giám sát, Thường trực HĐND Thành phố cũng bố trí, sắp xếp thời gian tham gia một số hoạt động giám sát chuyên đề của các Ban, qua đó nắm bắt tình hình. Đối với giám sát của Thường trực thì lãnh đạo chuyên trách các Ban tham gia là thành viên đoàn. Một số cuộc giám sát có sự tham gia, phối hợp giữa các Ban…

Về phiên giải trình: Đây là nội dung hoàn toàn mới nhưng ngày từ khi xây dựng chương trình kế hoạch công tác giám sát chung của cả HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND thực hiện trong cả năm, Thường trực HĐND Thành phố chỉ đạo và giao cho các Ban HĐND tham mưu, trong đó phân công Ban chủ trì, Ban phối hợp thực hiện: lựa chọn chủ đề và thống nhất chọn từ 1 đến 2 phiên để tổ chức phiên giải trình giữa hai kỳ họp. Nội dung giải trình là những vấn đề lớn, bức xúc do phiên chất vấn không đảm bảo thời gian vật chất thì chuyển sang thực hiện tại phiên giải trình, trong đó có điều kiện yêu cầu giải trình đến tận cùng của vấn đề, cụ thể: làm rõ những nội dung chưa làm được, giải pháp khắc phục, cơ quan nào có trách nhiệm giải quyết và thời gian hoàn thành.

Về giám sát đột xuất: Thực hiện trên cơ sở phản ánh bức xúc của cử tri, cơ quan báo đài và chỉ đạo của Ban Thường vụ Thành ủy về những vấn đề nổi cộm, Thường trực HĐND Thành phố căn cứ lĩnh vực các Ban phụ trách chỉ đạo Lãnh đạo Ban khảo sát và lập kế hoạch giám sát chuyên đề đột xuất, để làm rõ những bất cập trong công tác quản lý Nhà nước và trách nhiệm giải quyết.

Về hoạt động giám sát của Tổ đại biểu HĐND Thành phố: Thường trực HĐND đã chỉ đạo và giao cho các đồng chí Tổ trưởng Tổ đại biểu HĐND Thành phố căn cứ theo các kiến nghị của cử tri (thông qua các buổi tiếp xúc cử tri và tiếp công dân của đại biểu) lựa chọn những vấn đề nổi cộm, bức xúc của cử tri, tổ chức cho đại biểu của Tổ mình thực hiện giám sát nơi địa bàn đại biểu ứng cử.

Nhìn chung, Thường trực HĐND thành phố Hà Nội đã thực hiện có hiệu quả công tác chỉ đạo, phân công, điều hòa hoạt động giám sát chuyên đề, đột xuất giữa Thường trực HĐND, các Ban và giữa các Ban, Tổ đại biểu; phát huy tính chủ động, tích cực, linh hoạt của Thường trực HĐND, các Ban, Tổ đại biểu HĐND, hoàn thành tốt các chương trình, kế hoạch giám sát đã đề ra. Hoạt động giám sát ngày càng đổi mới, đi vào chiều sâu, được các cấp, các ngành, cử tri và nhân dân Thủ đô ghi nhận, đánh giá cao. Sau giám sát, các kiến nghị, đề xuất của Thường trực HĐND, các Ban HĐND cơ bản được chủ thể chịu sự giám sát nghiêm túc thực hiện, khắc phục những hạn chế, tháo gỡ những khó khăn vướng mắc trong cơ chế, chính sách và quản lý điều hành phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn, góp phần nâng cao vai trò, uy tín của cơ quan dân cử.

Những bài học kinh nghiệm: Một là: Xác định và nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, trách nhiệm của Thường trực HĐND, lãnh đạo các Ban HĐND trong hoạt động giám sát, từ đó tổ chức, triển khai thực hiện từ việc lựa chọn chủ đề, vấn đề lớn của Thành phố, những nội dung vụ việc đang được dư luận nhân dân Thủ đô quan tâm để xây dựng kế hoạch giám sát theo từng chủ thể giám sát.   

Hai là: Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Thường trực Thành ủy Hà Nội nhất là những nội dung giám sát có tính nhạy cảm, phức tạp và sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị: Đoàn ĐBQH Thành phố, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố, các cơ quan liên quan, sự vào cuộc tích cực, bảo đảm thực hiện tốt hoạt động giám sát của Thường trực, các Ban HĐND, tổ đại biểu HĐND thành phố Hà Nội.

Ba là: Nâng cao năng lực dự báo tình hình, sâu sát cơ sở, thực tiễn, lắng nghe tâm tư nguyện vọng, ý kiến của cử tri để thu thập thông tin, xử lý thông tin và quyết định các vấn đề cần thiết tổ chức thực hiện giám sát, giám sát lựa chọn chuyên đề chuyên sâu. Các Ban HĐND, Tổ đại biểu HĐND tiếp tục nâng cao năng lực giám sát, chủ động linh hoạt đổi mới từ nội dung, phương thức tổ chức thực hiện giám sát theo hướng nhóm vấn đề đi vào trọng tâm, trọng điểm, công khai, dân chủ, hiệu quả, vì dân, sát dân và gắn với thực tiễn cơ sở.

Bốn , Các hoạt động giám sát của các Ban HĐND, Tổ đại biểu HĐND Thành phố phải được thực hiện nghiêm túc theo kế hoạch; thực hiện tái giám sát, truy đến cùng việc thực hiện kết luận giám sát và làm cơ sở để đưa ra chất vấn tại kỳ họp HĐND nếu chủ thể chịu sự giám sát chưa triển khai thực hiện hoặc chưa hoàn thành theo tiến độ đề ra. Các kết luận giám sát đều được báo cáo Thường trực Thành ủy, đồng thời gửi UBND Thành phố để chỉ đạo các cơ quan nghiêm túc tiếp thu và triển khai thực hiện theo quy định. Các kết luận giám sát cũng được gửi tới tất cả các đại biểu HĐND tham khảo, nghiên cứu để chất vấn tại kỳ họp và được tăng tải toàn văn trên Trang thông tin điện tử của HĐND Thành phố để cử tri và nhân dân giám sát.

Năm là, Tiếp tục nâng cao năng lực hiệu quả hoạt động của Văn phòng HĐND Thành phố Hà Nội - bộ máy tham mưu giúp việc cho Thường trực HĐND nói chung và các Ban HĐND, đại biểu HĐND Thành phố nói riêng. Đảm bảo bộ máy tham mưu, giúp việc cần được kiện toàn theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả; phân công, phân nhiệm đảm bảo “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, và rõ thời gian thực hiện”. Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong hoạt động tham mưu, phục vụ.

Một số kiến nghị, đề xuất:

Đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Tăng cường giám sát việc tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp, quan tâm chỉ đạo các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương trong quán triệt và tổ chức thực hiện tốt Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND. Quan tâm chỉ đạo công tác bố trí, sắp xếp, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác dân cử, nhất là cán bộ làm chuyên trách HĐND; Hướng dẫn thống nhất thực hiện Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND đối với HĐND các cấp; Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, trao đổi kinh nghiệm hoạt động HĐND ở các địa phương; xây dựng bộ tài liệu chuẩn cho đào tạo, bồi dưỡng đại biểu HĐND.

Đề nghị Chính phủ: Tăng cường kiểm tra việc tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp trong việc thực thi các quy định của pháp luật; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp và giải quyết kịp thời các kiến nghị của các địa phương; Rà soát các văn bản pháp luật để việc thực hiện Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND bảo đảm hiệu quả thống nhất. Đồng thời tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh Nghị định 48/2016/NĐ-CP theo hướng tăng phòng chuyên môn (giúp việc Ban), tăng thêm chức danh lãnh đạo cho phù hợp để không chỉ tham mưu và phục vụ mà còn tạo nguồn đại biểu cho HĐND các tỉnh, thành phố cho nhiệm kỳ tiếp theo./.

KIM NGÂN

Lượt xem: 1929

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.