Quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân – Sự cần thiết phù hợp xu thế

Theo quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) hiện hành, việc truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) chỉ đặt ra đối với cá nhân, con người cụ thể. Dự thảo BLHS (sửa đổi) lần này bổ sung TNHS của pháp nhân (các điều 2, 3, 6, 8 và các điều thuộc Chương XI - Những quy định đối với pháp nhân phạm tội. Quy định TNHS đối với pháp nhân thể hiện nguyên tắc công bằng và bình đẳng của pháp luật, mọi hành vi phạm tội đều phải bị trừng phạt.

Theo quy định của Bộ luật Hình sự (BLHS) hiện hành, việc truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) chỉ đặt ra đối với cá nhân, con người cụ thể. Dự thảo BLHS (sửa đổi) lần này bổ sung TNHS của pháp nhân (các điều 2, 3, 6, 8 và các điều thuộc Chương XI - Những quy định đối với pháp nhân phạm tội. Quy định TNHS đối với pháp nhân thể hiện nguyên tắc công bằng và bình đẳng của pháp luật, mọi hành vi phạm tội đều phải bị trừng phạt.

Có thể thấy, việc quy định TNHS của pháp nhân trong BLHS là cần thiết, vì tình hình vi phạm pháp luật do pháp nhân thực hiện ngày càng phức tạp và nghiêm trọng, đặc biệt là các hành vi gây ô nhiễm môi trường, buôn lậu, sản xuất hàng giả, hàng cấm, trốn thuế, trốn đóng bảo hiểm xã hội…

Những hành vi phạm tội của pháp nhân thường xảy ra trong các hoạt động kinh tế với mục đích kiếm được lợi nhuận nhiều hơn. Mặc dù chúng ta đã có chế tài xử phạt vi phạm hành chính và có quy định trong pháp luật dân sự, kinh tế để người dân, cơ quan, tổ chức kiện đòi bồi thường thiệt hại đối với pháp nhân có hành vi vi phạm, nhưng trên thực tế, các quy định này còn bất cập, kém hiệu quả. Điều này dẫn đến trên thực tế có tình trạng pháp nhân coi thường pháp luật, ngang nhiên vi phạm. Mặt khác, mức phạt tiền trong Luật Xử lý vi phạm hành chính còn thấp, chưa đủ sức răn đe. Mức tối đa áp dụng đối với pháp nhân không vượt quá 2 tỷ đồng. Với mức phạt này, nhiều pháp nhân, nhất là các pháp nhân là các tập đoàn lớn hoặc các công ty đa quốc gia có thể chấp nhận nộp phạt để tiếp tục vi phạm. Hơn nữa, dưới khía cạnh bảo vệ người dân - đối tượng bị gây thiệt hại do hành vi vi phạm của pháp nhân gây ra, thủ tục kiện đòi bồi thường thiệt hại của người dân đối với pháp nhân phức tạp, nên người dân khó có điều kiện để bảo vệ quyền lợi của mình.

Nhiều pháp nhân vi phạm có đủ dấu hiệu của tội phạm nhưng không xử lý được về hình sự, bởi không riêng người đứng đầu vi phạm mà cả pháp nhân vi phạm. Nếu pháp luật chỉ truy cứu TNHS đối với người đại diện của pháp nhân mà không truy cứu TNHS đối với pháp nhân, như vậy là bỏ lọt tội phạm và pháp nhân có điều kiện “lách luật” để thực hiện các hành vi trái pháp luật.

Thực tiễn đấu tranh phòng và chống tội phạm thời gian gần đây cũng đặt ra yêu cầu quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân để đáp ứng sự phát triển kinh tế và hội nhập. Hiện nay trên thế giới có 119 nước quy định TNHS đối với pháp nhân. Nhiều công ước, hiệp định quốc tế mà Việt Nam tham gia cũng có các điều khoản khuyến cáo quy định TNHS đối với pháp nhân. Trong xu thế đó, nếu ta không quy định TNHS của pháp nhân trong BLHS thì sẽ tạo ra sự bất bình đẳng trong việc xử lý pháp nhân vi phạm. Cụ thể các pháp nhân Việt Nam ra nước ngoài làm ăn mà vi phạm có thể bị truy cứu TNHS, bị phạt rất nặng, trong khi đó, doanh nghiệp nước ngoài vào đầu tư, làm ăn tại Việt Nam dù vi phạm đến mức nào, theo quy định hiện này cũng chỉ bị phạt cao nhất là 2 tỷ đồng.

Nguyên tắc xử lý đối với pháp nhân cũng đã được quy định rõ trong Điều 75 của Dự thảo BLHS: “Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân; Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân; Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân…”.

Hình phạt áp dụng với pháp nhân sẽ gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Trong đó, có hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn, đình chỉ hoạt động có thời hạn, tước quyền sử dụng giấy phép hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn... Ngoài ra, pháp nhân phạm tội còn bị buộc bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội gây ra.

Điều 76 của dự thảo BLHS (sửa đổi) quy định pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự về 32 tội danh. Cụ thể là: Tội mua bán người, mua bán trẻ em (Điều 149, 150); nhóm các tội buôn lậu, sản xuất, buôn bán hàng cấm, hàng giả (Điều 190 đến 197); tội trốn thuế (Điều 204); tội in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ (Điều 207); nhóm tội liên quan đến vi phạm trong hoạt động chứng khoán (Điều 213 đến 215); tội trốn đóng bảo hiểm (Điều 220); tội vi phạm quy định về cạnh tranh (Điều 221); tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan (Điều 223); tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 224); các tội về ô nhiễm môi trường (Điều 231 – 232, Điều 236, Điều 239 - 241; tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở những nơi đông người (Điều 307); tội tài trợ khủng bố (Điều 313); tội sản xuất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn (Điều 328); tội rửa tiền (Điều 336); tội nhận hối lộ (Điều 367); tội đưa hối lộ (Điều 377); tội không chấp hành án (Điều 393).

Như vậy, có thể thấy rằng, việc quy định TNHS của pháp nhân là rất cần thiết, phù hợp với xu thế chung của thế giới, nhằm khắc phục những bất cập của hệ thống pháp luật hiện hành khi xử lý hành vi phạm tội của pháp nhân, đồng thời tạo cơ sở pháp lý trong hợp tác giữa các quốc gia nhằm đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm do pháp nhân gây ra.

Tuy nhiên, việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong dự thảo BLHS (sửa đổi) là vấn đề mới trong chính sách hình sự của Nhà nước ta, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và cuộc sống của người lao động. Sẽ còn có nhiều ý kiến trong việc quy định những hành vi của pháp nhân bị xử lý TNHS, nên mở rộng hay chỉ tập trung xử lý hình sự các hành vi tương đối phổ biến và thật sự gây bức xúc trong nhân dân…

 QUỐC THỊNH

Lượt xem: 756

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.