Quy định xử lý hình sự đối với tội phạm trong lĩnh vực bảo hiểm là cần thiết

Trong dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) có bổ sung 04 Điều: Điều 217. Tội trục lợi trong kinh doanh bảo hiểm; Điều 218. Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; Điều 219. Tội gian lận bảo hiểm y tế; Điều 220. Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động. Các hành vi vi phạm được xác định khá đa dạng, mức xử lý tập trung chủ yếu là phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù giam cao nhất tới 7 năm tù.

Có thể thấy, những năm gần đây, các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (BHXH, BHYT) liên tục gia tăng và phức tạp, xảy ra ở hầu hết các khâu như: Lập tờ khai cấp sổ BHXH lần đầu, ghi và xác nhận thời gian công tác; thu nộp BHXH, BHYT; quản lý hồ sơ, giải quyết chế độ chính sách... Chủ yếu ở các nhóm như: Vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT; vi phạm quyền thụ hưởng các chế độ BHXH, BHYT và liên quan đến việc quản lý, thực hiện BHXH, BHYT.

Người lao động làm thủ tục về BHXH (Ảnh minh họa)

Theo thống kê của BHXH Việt Nam, nếu như năm 2007 tổng số nợ BHXH, BHYT cả nước là 1.734 tỷ đồng, thì đến tháng 12-2013 đã là 10.659 tỷ đồng; và tính đến thời điểm cuối năm 2014 số nợ BHXH, BHYT, BH thất nghiệp của 54.000 tổ chức, doanh nghiệp đã lên đến gần 11.652 tỷ đồng, bằng hơn 6,3% so với tổng số phải thu. Tình trạng trốn đóng BHXH, BHYT, BH thất nghiệp xảy ra ở hầu hết các địa phương ngày càng nhiều và phổ biến nhất vẫn ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Đây là nguyên nhân gây thiệt hại lớn tài chính cho Quỹ BHXH, Quỹ BHYT và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của hàng ngàn lao động. Bên cạnh đó, tình trạng làm giả, mua bán giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng chế độ BHXH cũng gia tăng. Các cơ quan BHXH cũng đã tiến hành khởi kiện hàng ngàn doanh nghiệp chây ỳ, nợ đọng bảo hiểm, nhưng số tiền thu hồi được là không đáng kể. Do đó, nếu không bị xử lý kịp thời bằng bản án nghiêm khắc của pháp luật hình sự thì lòng tin của nhân dân vào chính sách xã hội, tính nghiêm minh của pháp luật sẽ bị giảm sút.

Luật BHXH, Luật BHYT hiện đã cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật BHXH, BHYT. Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự hiện hành không quy định tội danh cụ thể đối với những hành vi này nên không xử lý được.

Trong dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) có bổ sung 04 Điều: Điều 217. Tội trục lợi trong kinh doanh bảo hiểm; Điều 218. Tội gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; Điều 219. Tội gian lận bảo hiểm y tế; Điều 220. Tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động. Các hành vi vi phạm được xác định khá đa dạng, mức xử lý tập trung chủ yếu là phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù giam cao nhất tới 7 năm tù.

Chủ trương hình sự hóa một số vi phạm pháp luật về BH rất đúng, rất kịp thời. Đây sẽ là liều thuốc đủ mạnh đế trị các vi phạm về BH hiện nay vì tình trạng chủ doanh nghiệp “xù” tiền BHXH, BHYT, BH thất nghiệp của người lao động rất phổ biến, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chính sách an sinh xã hội.

Tuy nhiên, quá trình xử lý trách nhiệm hình sự đối với cá nhân có các hành vi vi phạm trong lĩnh vực BH cần phải được nghiêm minh, xác định cụ thể. Bởi nhiều khi những sai phạm trên lĩnh vực BH có trách nhiệm của tập thể; thậm chí nhiều cá nhân, người đứng đầu doanh nghiệp mà nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể bỏ trốn, nên việc xử lý cũng có nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, việc xử lý trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân theo quy định tại Khoản 6 Điều 220 như trong dự thảo cũng khó áp dụng vì nhiều pháp nhân nếu đã có các hành vi vi phạm ở mức độ nghiêm trong thì hầu hết đã ở tình trạng ngừng hoạt động, phá sản…

Vẫn biết việc hình sự hóa các sai phạm trong lĩnh vực BH là rất cần thiết, nhưng cách tốt nhất để hạn chế việc nợ đọng, trốn đóng BH là phải tăng cường năng lực quản lý, giám sát của Nhà nước, phải phát hiện xử lý ngay khi doanh nghiệp có dấu hiệu biểu lộ các hành vi này.

QUỐC THỊNH

Lượt xem: 124

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.