Sự quan tâm lãnh đạo sâu sát, trách nhiệm cao của Đảng sẽ bảo đảm cho việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm

Việc lấy phiếu tín nhiệm đã được quy định trong Hiến pháp năm 1992, trong Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và cụ thể hóa tại Nghị quyết số 35/2012/QH13 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn và trong bối cảnh hiện nay, điều này thật thấm thía là “đại sự của quốc gia”.

         Việc lấy phiếu tín nhiệm đã được quy định trong Hiến pháp năm 1992 (được Quốc hội sửa đổi, bổ sung năm 2001), trong Luật Tổ chức Quốc hội năm 2001, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2003 và Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003. Như vậy để khẳng định rằng việc này đã được đề cập cách đây 10 năm. Nghị quyết số 35/2012/QH13 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn được xem như một bước đi nữa nhằm cụ thể hóa Nghị quyết TƯ 4 khóa XI về "Một số vấn đề cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”. Và trong bối cảnh tình hình kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng hiện nay, việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn mới thật thấm thía đó là một việc “đại sự của quốc gia”.


Cử tri nô nức tham gia bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND các cấp

        Vì sao chế định lấy phiếu tín nhiệm lại chậm được thực hiện hay nói cách khác là 10 năm qua chưa được quan tâm thực hiện? Mổ sẻ trách nhiệm này thật khó. Ở bài viết này xin chỉ bàn khi đã có Nghị quyết số 35/2012/QH13 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn rồi thì giải pháp nào để thực hiện có chất lượng, hiệu quả, bảo đảm việc thực hiện đúng mục đích tại điều 3 của Nghị quyết là: “Việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân; giúp người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; làm cơ sở để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ. và  nguyên tắc tắc tại điều 4 của Nghị quyết là: “Công khai, công bằng, dân chủ, khách quan; bảo đảm đánh giá đúng thực chất kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm.Đề cao trách nhiệm của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; bảo đảm tiêu chuẩn của người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn; bảo đảm sự ổn định và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ”. Ngay sau khi có nghị quyết số 35/2012/QH13, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Ủy ban pháp luật của quốc hội chuẩn bị dự thảo nghị quyết hướng dẫn thực hiện. Bảo đảm theo lộ trình kỳ họp thứ 5 của quốc hội và kỳ họp thường kỳ đầu năm của HĐND các cấp sẽ triển khai thực hiện ngay được việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.  

   

         Mười năm qua chưa làm được, bây giờ làm, làm thế nào để cuộc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm tới đây tại Quốc hội và HĐND đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn bảo đảm “Công khai, công bằng, dân chủ, khách quan; bảo đảm đánh giá đúng thực chất kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm không mang tính hình thức, không bị lợi dụng để “hạ bệ nhau, bới lông tìm vết nhau” làm mất uy tín người được lấy phiếu tín nhiệm; bảo vệ được người có tài, có đức, vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Tỷ lệ phiếu phản ánh đúng thực chất. Trong nhiều giải pháp, có lẽ giải pháp quan trọng nhất vẫn là Đảng phải sâu sát, quyết liệt trong công tác lãnh đạo, nâng cao trách nhiệm, nhận thức của các tổ chức đảng và đảng viên khi thực thi nhiệm vụ “đại sự của quốc gia” này. Vì sao như vậy, tại điều 4 Hiến pháp quy định rõ: Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Từ khi có đảng, trong quá trình đấu tranh, xây dựng, bảo vệ tổ quốc Việt Nam XHCN, vai trò, vị trí, công lao to lớn của Đảng đã và đang được khẳng định gắn liền với vận mệnh quốc gia, dân tộc. Việc quản lý nhà nước, các quy định của Hiến pháp, pháp luật đều trên cơ sở cụ thể hóa chủ trương, đường lối của đảng, nghị quyết của Đảng.

 

       Trong bộ máy các cơ quan nhà nước hiện nay, các chức vụ cao đều do đảng viên đảm trách. Với cơ quan Quốc hội và HĐND thì đa số đại biểu là đảng viên. Thực tế hiện nay cơ cấu đại biểu Quốc hội khóa XIII có tới trên 95%  là Đảng viên và cơ cấu đại biểu HĐND các cấp ở cả nước nhiệm kỳ 2011-2016 có trên 90 % là đảng viên. Trước khi hiệp thương để đưa ra bầu, họ cũng được các tổ chức Đảng xem xét phân công ra ứng cử. Như vậy càng khẳng định rằng vai trò lãnh đạo toàn diện của đảng với cơ cấu tổ chức và hoạt động của Quốc hội, với HĐND. Những người được đưa ra lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đều là đảng viên, đang thay mặt quốc dân đồng bào cả nước, địa phương để đảm trách những nhiệm vụ rất quan trọng của quốc gia, của Đảng và Nhà nước. Vai trò, vị trí của họ, những việc làm tốt, xấu của họ chẳng những ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của đất nước, của từng địa phương cả nước mà ở những vị trí nào đó còn ảnh hưởng đến sự tồn tại của quốc gia, lợi ích sống còn của dân tộc…Những người mà tới đây sẽ đưa ra để Quốc hội và HĐND sẽ lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm đều là đảng viên, có những người do các tổ chức đảng cấp trung ương quản lý, có những người do các tổ chức đảng ở địa phương quản lý. Họ được đảng cử, dân bầu. Trong hoạt động thực hiện quyền và nhiệm vụ, cùng với việc tuân thủ các quy định của Hiến pháp, pháp luật thì Đại biểu là đảng viên sẽ phải tuân thủ Điều lệ đảng và sự chỉ đạo của tổ chức Đảng. Đại biểu là đảng viên họ hứa trước cử tri, nhưng trước khi là đại biểu họ đã phải tuyên thệ dưới cờ Đảng khi kết nạp. Trong bộ máy cơ quan nhà nước, đại biểu là đảng viên, là cán bộ, công chức còn có rất nhiều mối quan hệ về lãnh đạo điều hành, ràng buộc lẫn nhau khi thực thi công vụ… Bên cạnh đó còn có các quan hệ, ứng xử khác, đôi khi có ảnh hưởng hệ trọng, thật khó diễn tả…Với tỷ lệ đa số ở các cơ quan dân cử như vậy, nếu mỗi đảng viên không nâng cao trách nhiệm, tính chiến đấu, buông xuôi thì không biết việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm sẽ đi đến kết cục thế nào?!

 

         Thiết nghĩ bên cạnh việc hướng dẫn cách làm cụ thể, chặt chẽ, rõ trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì từ kinh nghiệm của việc tổ chức kiểm điểm đánh giá tổ chức, đảng viên theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4, Bộ chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy đảng địa phương và từng đảng viên phải vào cuộc trách nhiệm cao hơn, sâu sát và quyết liệt hơn.

 

          Các tổ chức đảng phải quán triệt phổ biến sâu nội dung nghị quyết số 35/2012/QH13 của Quốc hội cho đảng viên, để thống nhất nhận thức rằng việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm là việc làm cần thiết, thường xuyên không chỉ trong các cơ quan nhà nước mà cả trong Đảng; là một việc làm trong quy trình giám sát, kiểm tra nhằm nâng cao hiệu quả công tác, nâng cao hiệu lực hiệu quả hoạt động quản lý điều hành của cá nhân người đứng đầu nói riêng và của bộ máy các cơ quan nhà nước. Nếu quy trình lấy phiếu tín nhiệm được lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ, công tâm, tin chắc người bỏ phiếu tín nhiệm, người được lấy phiếu tín nhiệm và nhân dân sẽ hào hứng đón nhận sự kiện này như một sinh hoạt chính trị thường xuyên. Đây cũng chính là mục đích mà Nghị quyết TƯ 4 đề ra, làm cơ sở cho công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ phục vụ cho nhu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Làm tốt nhiệm vụ công tác này cũng là sự đảm bảo uy tín và nâng cao sức chiến đấu của đảng.

 

      Việc công bố các ưu, khuyết điểm qua kiểm điểm theo Nghị quyết Trung ương 4 và kiểm điểm, bình xét đảng viên hàng năm của người giữ chức vụ trong số phải đưa ra quốc hội, HĐND lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm phải được hướng dẫn, kiểm tra của đảng. Gắn trách nhiệm và nếu cần phải xem xét kỷ luật đảng khi phát hiện có sự thiếu trung thực, vận động, bè phái, gây áp lực, thậm trí có hành vi trù dập, vi phạm pháp luật trong quá trình triển khai thực hiện nghị quyết 35/2012/QH13 của Quốc hội.

 

      Nghị quyết số 35/2012/QH13 của Quốc hội về lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2013. Đây là việc “đại sự của quốc gia”. Như vậy ngay từ kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa XIII và kỳ họp thường kỳ đầu năm 2013 của HĐND các địa phương sẽ phải thực hiện. Công việc từ nay tới thời điểm đó thật gấp. Trong tâm trí của các tầng lớp nhân dân, dân tộc Việt Nam thì Đảng cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo, tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Với truyền thống đó, niềm tin đó, để xây dựng một nhà nước Việt Nam XHCN xứng đảng là nhà nước của dân, do dân và vì dân, bảo đảm lợi ích của quốc gia và dân tộc là mục đích trên hết. Hy vọng Bộ chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy đảng địa phương và mỗi đảng viên sẽ hiểu phải làm gì để thực thi nguyên lý lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của mình, nhằm thực hiện thành công việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng Nhân dân bầu hoặc phê chuẩn.

 

 

                                Nguyễn Xuân Diên

                                                                                                                                     Đại biểu HĐND TP Hà Nội 

Lượt xem: 139

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.