Sửa đổi Bộ luật Hình sự phải đảm bảo khách quan, toàn diện, khả thi

Dự thảo BLHS lần này chỉ có duy nhất một điều: Điều 178 quy định về hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp (sửa đổi). Điều này quy định không rõ, không đề cập hết và thật khó xử lý hành vi lãng phí. Rõ ràng đây là sự nhìn nhận chủ quan, vẫn còn xem nhẹ, chưa thấy hết được tác hại nghiêm trọng của hành vi lãng phí. Phải nói một cách thẳng thắn rằng: Ban dự thảo đã bỏ lọt các quy định về xử lý hành vi lãng phí.

Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21/12/1999 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2000, đã góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh phòng, chống tội phạm, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy vậy, quá trình thi hành BLHS cũng đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, đòi hỏi phải sớm khắc phục. Việc sửa đổi, bổ sung BLHS là một đòi hỏi khách quan và cấp thiết trong điều kiện phát triển về kinh tế và xã hội hiện nay của nước ta nhằm góp phần khắc phục một bước những bất cập, hạn chế nói trên, đáp ứng yêu cầu bức xúc của thực tiễn và bảo đảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đồng thời, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.

Trên cơ sở mục đích, yêu cầu sửa đổi như vậy, Dự thảo BLHS sửa đổi lần này có tổng số 443 điều (tăng 99 điều so với BLHS hiện hành), trong đó giữ nguyên nội dung 43 điều, bãi bỏ 06 điều, bổ sung mới 68 điều (có 37 tội danh mới) và sửa đổi 329 điều (trong đó có 51 điều được tách ra từ 20 điều của BLHS hiện hành).

BLHS hiện hành có 22 tội danh quy định hình phạt tử hình. Dự thảo BLHS sửa đổi lần này đã đưa ra đề xuất loại 7 tội danh khỏi khung hình phạt cao nhất. Đó là: Tội cướp tài sản; phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia; chống mệnh lệnh; đầu hàng địch; phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược; chống loài người; tội phạm chiến tranh. Đồng thời, dự luật cũng đã tách tội vận chuyển, tàng trữ, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy (Điều 194 BLHS hiện hành) thành các tội danh độc lập và chỉ giữ lại hình phạt tử hình đối với tội mua bán trái phép chất ma túy. Các tội danh khác, mức phạt cao nhất là tù chung thân. Theo Bộ Tư pháp – cơ quan Chủ trì soạn thảo thì phạm vi sửa đổi, bổ sung BLHS lần này là cơ bản và toàn diện.

Từ thực tiễn về công tác quản lý, điều hành nhà nước và xã hội, công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đã và đang diễn ra còn nhiều bất cập như: Quan hệ mới phát sinh, nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội đã và đang hoành hành, xâm phạm nghiêm trọng đền quyền, lợi ích của công dân, của nhà nước…; gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản của công dân, của cộng đồng và nhà nước…Quốc hội cũng đã sửa đổi, bổ sung Hiến pháp; hoàn thiện, ban hành rất nhiều đạo luật riêng điều chỉnh các lĩnh vực quan hệ xã hội, trong những đạo luật đó có những quy định xử lý những hành vi vi phạm với những chế tài, tùy theo mức độ mà có thể đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự. Mặc dù Ban soạn thảo Dự thảo BLHS đã có nhiều cố gắng trong việc tìm hiểu, tiếp thu, nhưng vẫn còn có những quy định mang tính chủ quan, có những khoảng trống chưa được quy định, chưa toàn diện và đầy đủ. Qua tổng hợp ý kiến của cử tri và đông đảo các tầng lớp nhân dân thành phố Hà Nội, có một số vấn đề cần được xem xét sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện như:

Một là, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã được Quốc hội khóa XI thông qua năm 2005 và có hiệu lực từ ngày 01/6/2006. Qua hơn 9 năm thực hiện, Luật đã tạo được khung pháp lý có giá trị cao và đồng bộ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Trên thực tế hiện nay lãng phí đa và đang diễn ra ở hầu hết các địa phương, trên hầu hết các lĩnh vực. Tại Kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XIII, trong Báo cáo của Chính phủ đã thừa nhận “Tình trạng lãng phí chưa ngăn chặn được, vẫn xảy ra trên nhiều lĩnh vực”. Nhiều đại biểu thể hiện quan điểm cho rằng, với thực tế diễn biến lãng phí ngày càng nghiêm trọng như hiện nay thì cần “nâng cấp” lên thành “quốc nạn”. Xem ra “căn bệnh” lãng phí ở nước ta hiện nay đã đến hồi báo động “đỏ” ở mức rất nguy hiểm. Thực trạng lãng phí đã và đang là vấn đề bức xúc, gây tác hại to lớn cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, làm xói mòn niềm tin của người dân với Đảng, với các cấp chính quyền. Ở một góc độ nào đó, tham nhũng là sự chuyển nguồn lực từ chỗ này sang chỗ kia, từ chủ thể này sang chủ thể khác. Còn với lãng phí là làm thất thoát, mất mát, hao tổn đó chính là phá hủy nguồn lực phát triển. Do đó, tình trạng lãng phí nếu không được ngăn chặn, tác hại của nó còn lớn hơn tham nhũng. Lãng phí được xem là nguy hại như “căn bệnh” tham nhũng, thậm chí xét đến cùng nó còn nguy hại hơn. Tuy nhiên, tình trạng lãng phí vẫn chưa có biện pháp hiệu nào ngăn chặn được. BLHS 1999 không coi lãng phí là tội phạm, tuy thời điểm đó lãng phí chưa phát triển và nguy hại như những năm gần đây; mặc dù vậy đây là một thiếu sót. Dự thảo BLHS lần này chỉ có duy nhất một điều: Điều 178 quy định về hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp (sửa đổi). Điều này quy định không rõ, không đề cập hết và thật khó xử lý hành vi lãng phí. Rõ ràng đây là sự nhìn nhận chủ quan, vẫn còn xem nhẹ, chưa thấy hết được tác hại nghiêm trọng của hành vi lãng phí. Phải nói một cách thẳng thắn rằng: Ban dự thảo đã bỏ lọt các quy định về xử lý hành vi lãng phí.

Hai là, trong Dự thảo BLHS có quy định xử lý các hành vi vi phạm về quản lý sử dụng điện, cung ứng điện, đây là quy định mới và cần thiết. Nhưng tại sao không có các quy định trong BLHS về xử lý các hành vi vi phạm về quản lý, sử dụng, cung ứng nước sạch; nhất là nước sạch, nước hợp vệ sinh  dùng cho đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Nước là nhu cầu thiết yếu bảo đảm sự sống của côn người, Trong thời gian qua đã có biết bao nhiêu sai phạm về lĩnh vực này. Từ việc sai phạm về quản lý, sử dụng, cung ứng nước gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trong đối với đời sông cộng đồng dân cư và sức khỏe của con người…Ví dụ việc vỡ đường ống dẫn nước sạch; ô nhiễm nước sạch ở nhiều Nhà máy nước;; cắt nước tùy tiện… Tuy nhiên do nhận thức vẫn còn đơn giản nên hành vi vi phạm về về lĩnh vực này vần bị lãng quyên không vào BLHS. Đến Dự thảo BLHS lần này, ban dự thảo cũng mới lưu tâm đến điện mà chưa lưu tâm đến nước sạch là một thiếu sót cần được xem xét bổ sung.

BLHS có bốn tội danh mới về lĩnh vực Bảo hiểm (các điều 217, 218, 219, 220); Việc bổ sung quy định các tội danh về lĩnh vực này là cần thiết bởi thời gian vừa qua đã xảy ra nhiều vụ sai phạm nghiêm trọng về lĩnh vực bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp gây thiệt hại lớn cho người được quyền đóng và sử dụng bảo hiểm, gây bức xúc trong xã hội. Tuy nhiên về lĩnh vực bảo hiểm, Dự thảo BLHS vần bỏ sót chưa có quy định tội danh về sai phạm trong lĩnh vực: Bảo hiểm hàng hóa, tài sản, tiền gửi, nhân thọ…Hiện nay đã và đang xảy ra khiến cho các cơ quan pháp luật rất khó xử lý.

Ba là, trong Dự thảo BLHS có tới 22 điều quy định về tội phạm ma túy, từ việc sản xuất, làm giả, lưu thông, buôn bán cho đến sử dụng,… việc quan tâm có các tội danh đầy đủ để xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm về lĩnh vực này là cần thiết. Tuy nhiên hiện nay hành vi vi phạm về lĩnh vực sản xuất, làm giả, lưu thông, nhập khẩu, buôn bán và sử dụng thực phẩm ô nhiễm, kém chất lượng…đã và đang diến ra vô cùng phức tạp, đã và đang gây nguy hại rất lớn cho con người. Thời gian qua đa xảy ra rất nhiều vụ ngộ độc; và hiện trạng chúng ta cũng đã và đang phải sử dụng các loại thực phẩm thiết yếu cho bảo đảm sự sống, nhưng thật khó và không thể tự mỗi người xác định được đâu là thực phẩm an toàn, đâu là thực phẩm không an toàn…Nếu ma túy làm cho người sử dụng trái phép, không đúng liều lượng dẫn đến không điều khiển được hành vi, từ đó phạm các tội khác…có khi làm chết người. Thì việc sử dụng các chất cấm trong chăn nuôi, sản xuất, chế biến thực phẩm gây không bảo đảm an toàn cũng làm cho con người ngộ độc, lâm vào các bệnh hiểm nghèo, khuynh gia bại sản, có thể dẫn đến chết…cũng đang là mối đe dọa không kém gì nguy hại về lĩnh vực sản xuất, buôn bán, quản lý, sử dụng ma túy! Thế nhưng, BLHSsửa đổi bổ sung lần này chỉ có duy nhất một điều: Điều 328 Tội sản suất, kinh doanh thực phẩm không đảm bảo an toàn (sửa đổi), điều này quy định rất chung chung và sơ sài . Rõ ràng Ban dự thảo cần phải xem xét lại để có những quy định phù hợp, đầy đủ, đáp ứng được với việc đấu tranh phòng chống các hành vi phạm pháp trên lĩnh vực này.

Bốn là, trong dự thảo BLHS vẫn còn có những tội danh với những danh từ khó hiểu, thiếu chính xác, nội hàm không rõ, không bao quát hết nên khó thực hiện và dễ bị hiểu nhầm về sự công minh, công bằng trong xử lý hành vi phạm pháp. Ví dụ:

Điều 115: Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội ( sửa đổi), quy định: “ 1.Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội thì phạt tù từ 07 năm đến 20 năm.” Chính sách kinh tế - xã hội, nội hàm thế nào? Thật khó mà áp dụng khi xử lý.

Điều 404. Tội không tôn trọng Tòa án (mới). Rất nhiều câu hỏi đặt ra: Thế nào là không tôn trọng Tòa án? Vì sao hành vi không tôn trọng Tòa án lại trở thành tội danh? Vậy hành vi không tôn trọng các cơ quan khác trong hệ thống các cơ quan của Nhà nước khác như: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân thì có “nâng cấp lên” thành tội danh không? Mở rộng ra nếu hành vi không tôn trọng các cơ quan, tổ chức trong Hệ thống chính trị của nước ta thì xử lý mức nào? Các hành vi  như: “ Thóa mạ, xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm thành viên hội đồng xét xử; đập phá tài sản tại phòng xét xử; Gây náo loạn phiên tòa, …” . Trên thực tế đã xảy ra, và không chỉ xảy ra ở tại phiên tòa mà còn xảy ra ở nơi khác … Đó có phải là phạm các tội: Chống người thi hành công vụ, làm nhục người khác; phá hoại tài sản của nhà nước chỉ giới hạn tại phiên tòa sao? Điều 380 khái niệm tội xâm phạm hoạt động tư pháp là: “Những hành vi xâm phạm hoạt động tố tụng và thi hành án”. Đây cũng là một vấn đề lớn mà Ban soạn thảo cần suy xét, đã bổ sung thì phải toàn diện, khách quan và sâu sát cho hôm nay và mai sau.

Mục A, Chương XXI - Các tội xâm phạm an toàn giao thông, có Điều 267. Một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt. Đây là một điều mới được bổ sung về định tội, định khung hình phạt chỉ áp dụng đối với các tội về xâm phạm an toàn giao thông. Trên cơ sở quy định của điều luật này, các điều luật trong Mục A đã có các quy định theo. Đáng chú ý là mức hình phạt cho các tội gây thiệt hại nghiêm trọng và rất nghiêm trọng đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông đều khác với tính chất, mức độ nghiêm trọng và rất nghiêm trọng, khung hình phạt áp dụng tại Điều 5. Phân loại tội phạm. Còn một vấn đề gây tranh cãi nữa là: Vì sao đối với các tội xâm phạm an toàn giao thông thì có hẳn một điều quy định: Một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt? Vậy đối với các tội khác thìsao?

Năm là, Dự thảo BLHS có quy định những tội mà Pháp nhân phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS), có thể nói đây là quan điểm mới, đột phá. Từ trước tới nay chúng ta mới xử Pháp nhân theo các quy định của các đạo luật về quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại…Tuy có những chế tài như: Phạt tiền, phong tỏa tài khoản, cưỡng chế kê biên phát mại tài sản do vi phạm, buộc phải bồi thường…Nhưng tính răn đe ở mức độ. Nhất là gần đây hệ lụy do hành vi phạm pháp mà các pháp nhân (chủ yếu là các pháp nhân là Doanh nghiệp) đã gây ra như: Sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, buôn lậu, trốn thuế, thao túng thị trường, gây ô nhiếm môi trường… Việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật này là rất cần thiết, là yêu cầu thực tiễn đã và đang đặt ra. Hình thức xử phạt đối với pháp nhân trong dự thảo BLHS  chủ yếu là : Phạt tiền, đình chỉ, cấm hoạt động. Theo Điều 76 thì pháp nhân phải chịu TNHS với 32 tội. Vấn đề đặt ra yêu cầu Ban soạn thảo phải làm rõ là: Sai phạm của pháp nhân là do chính trách nhiệm của cá nhân gây ra. Vậy tại sao lại bỏ lọt trách nhiệm hình sự của người đại diện pháp nhân? Chúng ta đều hiểu: Pháp nhân là gì? Thế nào là Pháp nhân? Có pháp nhân là Doanh nghiệp nhưng cũng có Pháp nhân là đơn vị trong bộ máy cơ quan Nhà nước. Đề cập TNHS đối với pháp nhân như trong dự thảo BLHS hẳn là chưa đầy đủ.

Và một vấn đề đáng phải quan tâm điều chỉnh nữa là: Trong BLHS nhiều điều còn dùng cụm từ: “có thể”, “hoặc”, …;  Dùng các số như 1/4, 1/3. 2/3, 2/5…nên cân nhắc để tránh hiểu sai, dễ áp dụng. Đáng chú ý là khoảng cách khung hình phạt vẫn còn quá rộng, rất nhiều tội ngay ở khoản 1 khung hình phạt đã cách nhau 5 năm, 7 năm, 8 năm, 10 năm hoặc đến mức chung thân, tử hình.  Đây là chỗ “hở của pháp luật” để những người thiếu nhân tâm và trách nhiệm dễ lợi dụng khi phán xử.

Như trên đã khẳng định việc sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1999 là rất cần thiết; mục đích yêu cầu đặt ra là: Bảo đảm xây dựng được một BLHS với các quy định phù hợp Hiến pháp, đồng bộ với các quy định của các đạo luật khác đang có hiệu lực thi hành và bảo đảm khách quan, toàn diện, thực tế trên các quan hệ nội tại và nhưng quan hệ liên quan đến quốc tế, các quy định phải khả thi; Bảo đảm BLHS thực sự là công cụ pháp lý sắc bén, hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế…của đất nước. Về bố cục của các chương, mục, điều, khoản cũng cần xem xét kết cấu lại cho hợp lý, đúng với các lĩnh vực quan hệ xã hội… Thiết nghĩ ban soạn thảo Dự thảo BLHS cần cập nhật đầy đủ các thông tin, các ý kiến góp ý để hoàn thiện dự thảo BLHS có chất lượng trình Quốc hội./.

Nguyễn Xuân Diên

Lượt xem: 411

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.