Thời hạn giao quyền sử dụng đất nồng nghiệp, thu hồi đất nông nghiệp nên quy định thế nào là phù hợp

Nên giữ nguyên hay tăng thời hạn sử dụng đất nông nghiệp? Luật Đất đai năm 2003 quy định thời hạn giao sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là 20 năm; thời hạn giao đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là 50 năm. Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi lần này dự kiến thời hạn giao sử dụng đất nông nghiệp đều là 50 năm.

Nguyễn Xuân Diên - HĐND TP HN

 

Luật Đất đai năm 2003 mới được sửa đổi, bổ sung năm 2009, trong quá trình thực hiện về cơ bản các quy định của Luật là phù hợp, khả thi. Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng của đất nước, một số chế định của luật lỗi thời, không còn phù hợp. Việc nhà nước quyết định sửa đổi Luật Đất đai năm 2003 và tổ chức lấy ý kiến của nhân dân trước khi đưa ra để Quốc hội khóa XIII xem xét tại kỳ họp lần thứ năm lần này là hoàn toàn đúng đắn. Các ý kiến đóng góp tập trung vào những chế định quan trọng trong dự thảo Luật như: Quyền sở hữu về đất đai, thời hạn sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường khi thu hồi đất, cho thuê đất có yếu tố nước ngoài... Đáng chú ý là có khá nhiều ý kiến bàn về quy định thời hạn sử dụng đất và thu hồi đất, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp. Đây là nhóm đất thời gian qua đã xảy ra nhiều việc hệ lụy trong quản lý và sử dụng làm cho Chính quyền các cấp phải vào cuộc, gây dự luận xấu, bức xúc trong nhân dân.  

Nên giữ nguyên hay tăng thời hạn sử dụng đất nông nghiệp? Luật Đất đai năm 2003 quy định thời hạn giao sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là 20 năm; thời hạn giao đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng là 50 năm. Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi lần này dự kiến thời hạn giao sử dụng đất nông nghiệp đều là 50 năm. Giao quyền sử dụng 20 năm hay 50 năm đối với đất nông nghiệp là một chế định thoạt nghĩ tưởng như đơn giản. Song đây lại là vấn đề hệ trọng, liên quan đến đối tượng sử dụng đất chiếm tỷ lệ lớn nhất, đang được được nhiều người quan tâm bàn luận. Lý lẽ cơ bản mà Ban soạn thảo đưa ra rằng: nhằm giúp nông dân gắn bó hơn với đất đai và yên tâm đầu tư sản xuất; đảm bảo công bằng như Doanh nghiệp được sử dụng đất trong thời hạn 50 năm… Suy cho thấu đáo thì lý lẽ  trên chưa thật toàn diện, còn khập khiễng, chưa tính đếm hết các yếu tố, tính chất, đặc trưng, đối tượng sử dụng, mục đích sử dụng từng loại đất và vì sao lại phải phân ra các loại: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng?  

Nước ta là một quốc gia lúa nước, với diện tích đất nông nghiệp chiếm trên 80% và cũng có trến 80% người dân làm nông nghiệp, xuất khẩu gạo đứng hàng đầu thế giới, nên thời hạn giao đất nông nghiệp cho người sử dung đất bao nhiêu năm càng trở nên quan trọng, đồng thời cũng là vấn đề nhạy cảm. Dù giao bao nhiêu năm thì vẫn phải căn cứ vào thực tế đồng thời cần tính toán kỹ tới định hướng tương lai, để tránh những hệ lụy, hệ quả của việc kéo dài thời hạn. Không chỉ ở Việt Nam mà bất cứ quốc gia nào cũng phải thừa nhận là: Số lượng người ngày càng tăng nhưng số diện tích đất của quốc gia, vùng lãnh thổ hầu như không tăng. Nếu có tăng hoặc giảm về diện tích thì thường là sự xâm chiếm lãnh thổ, hợp nhất giữa quốc gia này và quốc gia khác; sự cạn kiệt hoặc xâm thực của đại dương…

Việt Nam với vị trí địa lý, địa hình thật phức tạp có trên 3.200 km bờ biển, liền kề với Trung Quốc và một số quốc gia khác. Lịch sử dựng nước và giữ nước luôn nhắc việc bảo vệ, giữ gìn vẹn toàn diện tích đất đai khỏi bị sự xâm chiếm là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Năm 1992, dân số nước ta lúc đó chưa đến 65 triệu người. Vậy mà bây giờ dân số nước ta đã trên 87 triệu người. Hiện nay, tỷ lệ người dân làm nông nghiệp, ở nông thôn chiếm khoảng 80%. Có địa phương bình quân mỗi người chưa đến 1 sào đất. Đó là chưa kể đến những nơi do quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị, mỗi người dân làm nông nghiệp chỉ còn chưa đầy 100 m 2 (nhiều xã ở các huyện giáp gianh nội thành thuộc thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng…). Như Luật Đất đai năm 2003 quy định thời hạn giao sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối cho hộ gia đình, cá nhân là 20 năm; đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất cho hộ gia đình, cá nhân là 50 năm; để quản lý, theo dõi việc sử dụng đất có đúng pháp luật không rất phức tạp.

Trong khi đó, từ khi có Luật Đất đai năm 1987 đến nay, Nhà nước ta luôn quan tâm bổ sung, hoàn thiện, mở rộng quyền của người sử dụng đất. Người sử dụng đất đã có thêm các quyền: tặng cho, để lại thừa kế QSDĐ, cho thuê, cho thuê lại, thế chấp hay góp vốn bằng QSDĐ, nghĩa là được định đoạt quyền sử dụng đất trong khuôn khổ pháp luật. Theo tốc độ tăng dân số hiện nay, dù có các biện pháp sinh đẻ kế hoạch, chỉ tính khu vực nông thôn thì mỗi năm nước ta sẽ thêm khoảng 1 triệu người. Bên cạnh đó, mỗi năm quỹ đất nông nghiệp lại giảm đi do sử dung vào mục đích khác. Người nông dân có nơi không còn đất để sản xuất. Nhiều nơi con em nông dân sinh ra mà không hề được chia một mét vuông đất nông nghiệp. Thử hỏi trong hạn 20 năm hoặc 50 năm ấy, quyền lợi và nghĩa vụ của người nông dân ở nông thôn dưới sự quản lý nhà nước sẽ được bảo đảm thực hiện thế nào? Đúng là một phép tính khó, nếu không có tư duy sâu sắc hiện tại và tương lai, nếu lại gia hạn giao sử dụng đất nông nghiệp 50 năm (nửa đời người) chắc chắn sẽ tiềm ẩn, phát sinh mâu thuẫn rất lớn trong xã hội.

Nên xem xét có quy định riêng đối với chế định thu hồi các loại đất, nhất là đất nông nghiệp? Trong thời gian qua, đã xảy ra rất nhiều vẫn đề bất cập, không công bằng trong quá trình quản lý sử dụng đất nông nghiệp như: Người sử dụng đất chết đi có người thừa kế; họ chuyển đổi nghề khác, chuyển khẩu đi nơi khác, thay đổi quốc tịch Việt Nam nhưng không tự nguyện giao lại đất nông nghiệp; dẫn đến có hộ gia đình chỉ còn rất ít người làm nghề sản xuất nông nghiệp, thậm trí không còn ai sản xuất nông nghiệp nhưng do được thừa kế, tặng cho từ những thành viên khác trong gia đình nên mức hạn điền của họ gấp nhiều lần hộ khác, người khác. Trong thời hạn sử dụng đất, gia đình nào cũng có thể tìm các lý do vận dụng phù hợp pháp luật để giữ cho được diện tích đất nông nghiệp được giao.Bên cạnh đó thì có hộ gia đình sản xuất nông nghiệp do sinh thêm con, do kết hôn…tăng thêm nhân khẩu, vì không được chia đất thêm nên bình quân mức hạn điền với mỗi người lại giảm đi; họ lại không có khả năng chuyển đổi nghề, thiếu vốn, nên thu nhập đơn thuần từ sản xuất nông nghiệp không đáp ứng được đủ mức sông bình thường (hiện nay tiêu chí chuyển đổi nghề và phát triển nghề phụ ở nông thôn theo chương trình xây dựng nông thôn mới gặp rất nhiều khó khăn. Hầu như các địa phương xây dựng nông thôn mới ngay trên địa bàn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh  đều khó đạt tiêu chí này). Ở nông thôn đã và đang diễn ra tình trạng phổ biến người có nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp thì lại không có đất, còn người không có nhu cầu thì lại vẫn chiếm giữ phần đất mà gia đình, người thân của họ để lại.

Luật Đất đai năm 2003 quy định rất cụ thể 3 nhóm đất gồm: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng; với mỗi loại đất việc quản lý và sử dụng khác nhau, nhưng lại không quy định cụ thể việc thu hồi đối với từng đối tượng và từng loại đất. Đây là sự thiếu sót, nhưng dự thảo Luật Đất đai sửa đổi lần này cũng không bổ sung quy định cụ thể. Nếu Luật Đất đai sửa đổi không bổ sung ngay các quy định phù hợp, đúng đắn về thời hạn giao và thu hồi đất nông nghiệp sẽ xảy ra mâu thuẫn khó có thể điều hòa trong nông dân, nông thôn. Hàng triệu con em nông dân sinh ra sau khi Luật Đất đai có hiệu lực thi hành không có đất để canh tác, họ sẽ làm gì để duy trì cuộc sống? Sự bần cùng hóa nông dân sẽ dẫn đến hậu quả khó lường. Bên cạnh đó, một thực tế hiển nhiên là Hiến pháp và pháp luật quy định với trách nhiệm là công dân, người nông dân phải thực hiện rất nhiều nghĩa vụ với Nhà nước, trong đó có nghĩa vụ chiến đấu, hy sinh bảo vệ Tổ quốc…

Như trên đã phân tích, thời hạn sử dụng đất và thu hồi đất là các chế định rất quan trọng và nhạy cảm; cần phải suy tính toàn diện về công tác quản lý của nhà nước, về quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật, về sự ổn định, phát triển trước mắt và lâu dài của quốc gia, dân tộc. Thiết nghĩ sửa đổi Luật Đất đai lần này nên quy định với đất nông nghiệp chỉ nên giao thời hạn chung là 30 năm. Đồng thời quy định cụ thể hơn các trường hợp phải thu hồi do người sử dụng có hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình sử dụng đất; quy định thêm các trường hợp đương nhiên phải thu hồi đối với đất đất nông nghiệp khi: Người sử dụng đất chết, người sử dụng đất đã chuyển sang nghề khác thoát ly sản xuất nông nghiệp (người hưởng phụ cấp hưu trí, cán bộ, công chức nhà nước…), người sử dụng đất chuyển hộ khẩu sang địa phương khác; người chuyển đổi không còn mang quốc tịch Việt Nam… Có như vậy, mới tạo điều kiện cho những nhân khẩu mới ở nông thôn, người làm nông nghiệp được chia ruộng đất, yên tâm sản xuất, ổn định đời sống. Đây cũng là yếu tố cơ bản bảo đảm cho sự phát triển của đất nước./.

Lượt xem: 490

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.