Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp HĐND cấp huyện.

Quyền chất vấn của đại biểu HĐND được quy định tại điều 61, Luật Tổ chức HĐND&UBND năm 2003; chất vấn là một hình thức giám sát hiệu quả đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước. Theo quy định của Luật, những người có thể bị chất vấn là Chủ tịch HĐND, Chủ tịch và các thành viên khác của UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng Viện KSND và Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cùng cấp.

Quyền chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân được quy định tại điều 61, Luật Tổ chức HĐND&UBND năm 2003; chất vấn là một hình thức giám sát hiệu quả đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước. Theo quy định của luật, những người có thể bị chất vấn là Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp.

Việc chất vấn và trả lời chất vấn được thực hiện chủ yếu tại phiên họp trong kỳ họp thường lệ, giữa hại kỳ họp thường lệ hoặc kỳ họp chuyên đề của HĐND.

Thời gian qua, trong các kỳ họp thường lệ và chuyên đề của HĐND các quận, huyện, thị xã thuộc Thành phố Hà Nội đã chú trọng đến hoạt động chất vấn của đại biểu và việc trả lời của các cá nhân, cơ quan, đơn vị liên quan đến chất vấn. Mỗi kỳ họp thường giành một buổi để tổ chức chất vấn và trả lời chất vấn. HĐND các huyện: Ba Vì, Chương Mỹ, Thanh Trì, Ứng Hòa, Gia Lâm; các quận: Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, Ba Đình, Long Biên ...thực hiện khá tốt hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thường lệ.

Có quận, huyện tổ chức truyền thanh trực tiếp. Thông qua hoạt động này, đã góp phần tích cực vào việc phát triển KTXH, giữ gìn an ninh chính trị ở địa phương, bảo đảm an sinh xã hội; giải quyết được nhiều kiến nghị bức xúc trong nhân dân và cử tri. Việc làm có hiệu quả hoạt động giám sát bằng hình thức chất vấn này đã và đang được cử tri và nhân dân quan tâm, tin tưởng.

Tuy nhiên, vẫn còn một số HĐND quận, huyện coi nhẹ hoạt động này, nên chưa xem xét, tổng hợp, lựa chọn được những nội dung trọng tâm, những vấn đề dân sinh bức xúc để đưa vào chương trình chất vấn và trả lời chất vấn; Việc chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp mang tính hình thức, giành ít thời gian; Chủ tọa điều hành chưa phát huy hết vị trí trách nhiệm, ngại va chạm, điều hành chưa khoa học; Câu hỏi, nội dung chất vấn do đại biểu tự phát. Bản lĩnh, kỹ năng của đại biểu trong hoạt động chất vấn tại nghị trường còn hạn chế. Nhiều đại biểu ngại chất vấn hoặc không dám chất vấn. Bên cạnh đó, việc trả lời chất vấn của người, cơ quan có thẩm quyền chưa đúng nội dung chất vấn, hoặc trả lời mang tính đối phó, thiếu thuyết phục. Đáng lưu ý là hoạt động giám sát của HĐND các quận, huyện, thị xã đối với việc thực hiện lời hứa của người, cơ quan, đơn vị bị chất vấn còn hạn chế…Phần nào ảnh hưởng tới hoạt động và uy tín đại biểu HĐND …

Để trong thời gian tới hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các kỳ họp HĐND quận, huyện, thị xã đạt hiệu quả tốt, trên cơ sở các quy định của pháp luật, đáp ứng được nguyện vọng và tạo dựng được niềm tin của cử tri và nhân dân địa phương; từ thực tế hoạt động chất vấn của HĐND Thành phố, Thường trực HĐND các quận, huyện, thị xã cấn thực hiện tốt các giải pháp sau:

Một là: Yêu cầu và hướng dẫn đại biểu thu thập, tổng hợp thông tin để hình thành nội dung chất vấn thiết thực, có trọng tâm, trọng điểm; tự mình nâng cao bản lĩnh, trách  nhiệm và kỹ năngtrong hoạt động chất vấn.

Đại biểu Hội đồng nhân dân tự mình phải thu thập thông tin qua các nguồn: TXCT, tiếp công dân, qua khảo sát, giám sát, qua các phương tiện thông tin đại chúng…Khi có được thông tin phải tổng hợp, phân loại các lĩnh vực, sàng lọc tính xác thực của thông tin, đối chiếu với thẩm quyền chất vấn của đại biểu, của cử tri; thẩm quyền của đối tượng phải trả lời chất vấn. Từ đó ghi rõ nội dung chất vấn, người bị chất vấn vào phiếu ghi chất vấn và gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân để chuyển đến người bị chất vấn.

Hai là: Thường trực HĐND tổng hợp, lựa chọn, gửi câu chất vấn đến đối tượng phải trả lời tại kỳ họp. Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét về thẩm quyền, sự trùng lặp nội dung chất vấn; xem xét loại bỏ những nội dung chất vấn đã được trả lời hoặc đã và đang thực hiện; phân loại, lựa chọn tổng hợp các nội dung chất vấn cụ thể, rõ người, rõ việc. Nếu thấy nội dung chất vấn là cần thiết, có thể phải ban hành nghị quyết về lĩnh vực đó, Thường trực HĐND yêu cầu đại biểu chất vấn cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ hoặc tổ chức thu thập thêm tài liệu, chứng cứ, vv…

Thường trực HĐND gửi nội dung chất vấn đến người, cơ quan, đơn vị có thẩm quyền trả lời và yêu cầu cung cấp danh sách những người trả lời chất vấn tại phiên họp, kỳ họp; trả lời chất vấn bằng văn bản

Yêu cầu người trả lời chất vấn tại kỳ họp Hội đồng nhân dân có trách nhiệm báo cáo với Hội đồng nhân dân bằng văn bản về việc thực hiện những vấn đề đã hứa, tiếp thu, ghi nhân tại kỳ họp trước. báo cáo được gửi đến thường trực Hội đồng nhân dân để chuyển đến các đại biểu Hội đồng nhân dân chậm nhất là mười ngày trước ngày khai mạc kỳ Họp hội đồng nhân dân.

Ba là: Chủ tọa kỳ họp điều hành phiên chất vấn tại phiên họp của kỳ thường lệ và kỳ họp chuyên đề sau khi đã chuẩn bị xong nội dung chất vấn và việc chuẩn bị  trả lời chất vấn phải hợp lý về nội dung, thời gian, linh hoạt và cương quyết, theo một trình tự khoa học. Khi cần thiết, để phiên chất vấn có hiệu quả, Chủ tọa phải chuẩn bị được những chứng cứ, hình ảnh hoặc phim tư liệu về những nội dung chất vấn tại nghị trường.

Chủ tọa phiên họp, kỳ họp nêu những vấn đề chất vấn và thứ tự trả lời chất vấn;

Người bị chất vấn trả lời trực tiếp, đầy đủ về các nội dung mà đại biểu Hội đồng nhân dân đã chất vấn và xác định rõ trách nhiệm, biện pháp khắc phục.Thời gian trả lời chất vấn của người bị trả lời chất vấn do chủ tọa phiên họp đã báo cáo trước Hội đồng nhân dân quyết định. Từ kinh nghiệm thực tế tại các kỳ họp HĐND quận, huyện, thị xã và HĐND Thành phố, thời gian trả lời chất vấn từng vấn đề không quá mười lăm phút, trường hợp đặc biệt do Chủ tọa phiên họp xác định.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể nêu thêm câu hỏi liên quan đến nội dung đã chất vấn. Sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu đại biểu Hội đồng nhân dân không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Hội đồng nhân dân tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó, đưa ra thảo luân tại phiên họp khác của Hội đồng nhân dân hoặc kiến nghị hội đồng nhân dân xem xét trách nhiệm của người bị chất vấn. Căn cứ vào đề nghị của đại biểu Hội đồng nhân dân và nội dung chất vấn, trả lời chất vấn, Thường trực Hội đồng nhân dân kiến nghị Hội đồng nhân dân biện pháp xử lý. Trong trường hợp Hội đồng nhân dân đưa ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn thì Thường trực Hội đồng nhân dân phân công ban của hội đồng nhân dân phối hợp với các cơ quan hữu quan chuẩn bị dự thảo nghị quyết trình Hội đồng nhân dân.

Đại biểu Hội đồng nhân dân có thể nêu thêm câu hỏi liên quan đến nội dung đã chất vấn. Hoặc sau khi nghe trả lời chất vấn, nếu đại biểu Hội đồng nhân dân không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Hội đồng nhân dân tiếp tục thảo luận tại phiên họp đó, kiến nghị hội đồng nhân dân xem xét trách nhiệm của người bị chất vấn. Thời gian cho đại biểu tái chất vấn chỉ nên từ 5 đến 7 phút. Căn cứ vào đề nghị của đại biểu Hội đồng nhân dân và nội dung chất vấn, trả lời chất vấn, Thường trực Hội đồng nhân dân kiến nghị Hội đồng nhân dân biện pháp xử lý.

Bốn là: Tổ chức theo dõi, giám sát những kết luận sau chất vấn và những lời hứa trước HĐND.

Hiệu quả của hoạt động chát vấn chính là các kiến nghị, chất vấn đúng sự thật đều được giải quyết, thực hiện triệt để. Trong trường hợp Hội đồng nhân dân đưa ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn thì Thường trực Hội đồng nhân dân phân công ban của hội đồng nhân dân phối hợp với các cơ quan hữu quan chuẩn bị dự thảo nghị quyết trình Hội đồng nhân dân. Ngoài ra, khi cần thiết, Thường trực HĐND chỉ đạo việc giám sát thực hiện lời hứa sau chất vấn. Và một thông lệ bắt buộc là người bị chất vấn nhất định phải có báo cáo về việc thực hiện các lời hứa thực hiện các kết luận hoặc nghị quyết của HĐND sau phiên chất vấn để gửi tới các vị đại biểu tại kỳ họp liền kề tiếp theo. Nếu xét thấy việc người bị chất vấn chấp hành và thực hiện lời hứa không nghiêm túc, Thường trực HĐND có thể xem xét, xin ý kiến đại biểu tiếp tục tái chất vấn tại kỳ họp sau. Hoặc có những giải pháp thích hợp khác theo quy định của pháp luật.

 NGUYỄN XUÂN DIÊN 

Lượt xem: 559

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.