Tìm hiểu cách thức giải quyết khiếu nại tố cáo của một số triều đại phong kiến Việt Nam

Người được giao giải quyết phải công minh, chính trực, liêm khiết. Trong triều đại phong kiến Việt Nam đã ghi danh nhiều ông quan thanh liêm như: thời Lý có Lý Đạo Thành; thời Trần có Nguyễn Trung Ngạn, Đoàn Nhữ Hải, Phạm Tông Mai; thời Lê có Nguyễn Trãi, Phân Thiên Tước; Thời vua Lê – Chúa Trịnh, và thời Trịnh Nguyễn phân tranh có các quan Đô ngự sử công minh chính trực như Lê Trạc Tú, Giám Hải…

 Nguyễn Xuân Diên

 

Phó Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND thành phố  Hà Nội

     Chỉ đến triều đại nhà Lý, pháp luật thành văn ở nước ta ra đời, thời vua Lý Thái Tổ (1009-1028) để ổn định xã hội, giải quyết các hậu quả của triều đại trước Ngô, Đinh, Tiền Lê (938-1009) nhà vua cho xây tượng Long Đức làm nơi xem xử kiện. Vua xuống chiếu: “Từ nay ai có việc tranh kiện cho đến triều tâu bày, vua thâm xét quyết”.

Đến đời vua Lý Thái Tông (1028 – 1054), Vua ủy quyền cho Thái tử giải quyết kiện cáo của dân nhưng phải tâu lại với vua. Năm 1029 nhà vua cho đặt 2 bức tả, hữu thần rồng là điện Văn Minh và điện Quan Vũ mỗi bên một chuông, gọi là lầu chuông để dân được đánh chuông lớn vào kê kiện. Năm 1033 Vua lại cho đúc chuông vạn cân ở lầu Long Từ để ai có oan trái thì tới đánh chuông. Thời vua Lý Anh Tông (1138 – 1175) năm 1158 Vua cho đặt 1 hòm gỗ ở sân rồng để nhận đơn khiếu kiện của dân.

Đến triều đại Lê Sơ (1428 – 1527) việc giải quyết khiếu kiện của nhân dân được quy định trong “Quốc triều khám trong điều lệ”. Bao gồm các quy định như: trình tự khiếu kiện, đáng chú ý là cuốn khiếu kiện vượt cấp: “Các việc kiện tụng chưa chưa kinh qua lần khám nào đã khiếu nại vượt cấp thì các nha môn đều không được nhận khám”… Trường hợp bị người quyền quý ức hiếp thiệt hại nặng, cùng các trường hợp  oan ức, không biết khám lệ ở nha môn nào, không còn con đường nào kêu cầu, các trường hợp đã qua công luật phúc đính nhưng chưa giải tỏ được lý thì mới cho khua chuông gióng mõ mà kêu”.

(Ảnh minh họa)

Ở Điều 672 Quốc triều Hình luật, chương Đoán ngục nêu: “Dân trong lộ, trong huyện có việc tranh kiện nhau, việc rất nhỏ kiện đến quan, việc nhỏ kiện đến lộ quan, việc vừa thì đến kiện ở quan phủ; các quan kể trên phải xét xử cho công bằng, đúng pháp luật; nếu việc lớn thì phải đến kinh. Nếu xã quan xử không hợp nhẽ thì mới đến kinh tâu bày. Nếu trái luật này thì xử tội chượng hoặc tội biếm. Tố cáo những việc mưu phản ngịch thì không theo luật này”.

Đến thời vua Lê – Chúa Trịnh, Chúa Trịnh Cương và Trịnh Doanh đều có biện pháp dựng bảng, đặt chuông, mõ ở phủ đường để dân phản ánh nỗi oan khuất. Năm 1751, Trịnh Doanh còn cho dân viên thư dán kín ghi rõ địa chỉ và nỗi oan khuất gửi lên phủ Chúa. Năm 1683 Chúa Trịnh Căn cũng Ban lệnh việc khiếu tố phải theo đúng cấp quy định. Hễ ai kiện cáo vượt bậc thì phạt 20 quan tiền, viên quan nào nhận đơn kiện vượt cấp cũng bị phạt như vậy. Nha môn nào việc đáng phải nhận mà không nhận hoặc nhận mà không xử hoặc nha môn nào việc không thuộc quyền cũng cứ nhận và cứ xử thì cũng bị phạt.

Về thời hiệu khiếu tố, thời nhà Lý quy định cho từng loại việc, Ví dụ: Ruộng đất bỏ hoang bị người khác cày cấy trong vòng 1 năm nếu khiếu kiện đòi lại thì được giải quyết, quá hạn 1 năm thì không giải quyết. Những việc kiện bộ máy quan lại tham nhũng thì không có giới hạn về thời gian.

Thời nhà Lê Sơ các việc kiện tụng về ruộng đất, về trộm cướp được quy định hạn trọng 3 tháng; những việc kiện về hộ khẩu, hôn thú được quy định hạn trong 2 tháng. Trách nhiệm giải quyết do xã quan, lộ quan, huyện quan thực hiện. Ở các trấn thì do quan thừa ti, trấn thủ giải quyết. Nếu việc giải quyết người đi kiện chưa tâm phục khẩu phục thì được giải quyết phúc thẩm tại Ngự Sử Đài.

Người được giao giải quyết phải công minh, chính trực, liêm khiết. Trong triều đại phong kiến Việt Nam đã ghi danh nhiều ông quan thanh liêm như: thời Lý có Lý Đạo Thành; thời Trần có Nguyễn Trung Ngạn, Đoàn Nhữ Hải, Phạm Tông Mai; thời Lê có Nguyễn Trãi, Phân Thiên Tước; Thời vua Lê – Chúa Trịnh, và thời Trịnh Nguyễn phân tranh có các quan Đô ngự sử công minh chính trực như Lê Trạc Tú, Giám Hải…

Ngẫm xưa, nghĩ nay càng thấy việc kế thừa, học tập những cách thức cai quản xã hội, chọn người để giao việc của ông cha ta (trong đó có việc thụ lý và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo) cần phải luôn luôn coi trọng./. 

Lượt xem: 661

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Xây dựng bộ chỉ số tác động đầu tư công – Hướng tới quản trị hiện đại và minh bạch

Nghiên cứu - trao đổi 1 ngày trước

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền đô thị hai cấp, việc giám sát đầu tư công và chi tiêu công đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Sự phân cấp quyền hạn đã tạo ra khoảng trống trong công cụ giám sát, đặc biệt là ở cấp xã, nơi vẫn diễn ra nhiều dự án đầu tư công quan trọng nhưng lại thiếu các phương tiện giám sát định lượng và minh bạch tương xứng. Hiện nay, việc giám sát đầu tư công tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các báo cáo định tính và hồ sơ hành chính, thiếu các chỉ số đo lường định lượng tác động xã hội-kinh tế. Điều này dẫn đến một hệ thống giám sát mang tính phản ứng, chủ yếu tập trung vào việc kiểm tra sau khi sự việc đã xảy ra, thay vì chủ động phát hiện và ngăn ngừa rủi ro. Thực trạng giải ngân vốn đầu tư công cũng cho thấy những thách thức đáng kể. Trong 4 tháng đầu năm 2025, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chỉ đạt 15,56%, thấp hơn so với cùng kỳ năm 2024. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giải ngân thực tế và mục tiêu cho thấy những nút thắt hệ thống cần được giải quyết. Để khắc phục những hạn chế trên, việc xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công theo hướng định lượng, gắn liền với kết quả đầu tư và tác động xã hội-kinh tế trở thành cấp thiết. Bộ chỉ số này được thiết kế tuân thủ nguyên tắc SMART: Cụ thể (Specific), Đo lường được (Measurable), Có thể đạt được (Achievable), Liên quan (Relevant), và Có thời hạn (Time-bound). Cấu trúc bốn nhóm chỉ số: Chỉ số đầu ra (Output Indicators) đo lường các sản phẩm hoặc dịch vụ hữu hình được tạo ra trực tiếp từ các hoạt động của dự án. Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, đây có thể là số km đường được xây dựng, tỷ lệ giải ngân, và tỷ lệ hoàn thành khối lượng thực hiện so với kế hoạch. Đối với y tế, các chỉ số này bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, số lượng tư vấn y tế được thực hiện, hay số lượng vắc xin được tiêm. Chỉ số kết quả (Outcome Indicators) đánh giá những thay đổi hoặc lợi ích trực tiếp mà các đối tượng thụ hưởng trải nghiệm sau khi dự án hoàn thành. Ví dụ, đối với dự án xây dựng đường liên xã, chỉ số kết quả có thể là thời gian di chuyển giảm, mức độ cải thiện tiếp cận dịch vụ công, hoặc trong lĩnh vực y tế là mức độ hài lòng của người bệnh với dịch vụ y tế. Chỉ số tác động (Impact Indicators) phản ánh những thay đổi dài hạn, có tính hệ thống và vĩ mô mà các khoản đầu tư công góp phần tạo ra. Chúng bao gồm tăng trưởng GRDP địa phương, tỷ lệ việc làm được tạo ra, và đóng góp vào thu ngân sách. Các chỉ số tài chính như Lợi tức đầu tư (ROI), Giá trị hiện tại ròng (NPV), và Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR) cũng được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án. Chỉ số công bằng và bao trùm (Equity & Inclusivity Indicators) tập trung vào việc đảm bảo rằng các khoản đầu tư công mang lại lợi ích công bằng cho mọi đối tượng, đặc biệt là các nhóm yếu thế và vùng sâu vùng xa. Việc đưa các chỉ số này vào khung giám sát thể hiện cam kết của chính quyền đối với công bằng xã hội và phát triển toàn diện. Ứng dụng thực tiễn trong các lĩnh vực Trong lĩnh vực hạ tầng giao thông, bộ chỉ số có thể được áp dụng như sau: Chỉ số đầu ra bao gồm số km đường được xây dựng và tỷ lệ giải ngân; chỉ số kết quả là thời gian di chuyển trung bình giảm và cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ; chỉ số tác động là số hộ dân tham gia sản xuất hàng hóa tăng và tăng trưởng GRDP địa phương; chỉ số công bằng là số lượng học sinh vùng sâu hưởng lợi từ việc đi lại thuận tiện hơn. Đối với lĩnh vực y tế và giáo dục, chỉ số đầu ra y tế bao gồm số lượng phòng khám được xây dựng, tỷ lệ bệnh nhân được điều trị đúng phác đồ; chỉ số kết quả là mức độ hài lòng của bệnh nhân và hiệu quả lâm sàng. Trong giáo dục, chỉ số đầu ra là số lượng phòng học được xây dựng và số lượng giáo viên được đào tạo; chỉ số kết quả là tỷ lệ học sinh đạt chuẩn đầu ra và mức độ hài lòng của phụ huynh. Lĩnh vực môi trường có các chỉ số đầu ra như số lượng dự án được phân loại theo mức độ tác động môi trường; chỉ số kết quả/tác động bao gồm mức độ giảm thiểu ô nhiễm không khí/nước và sức khỏe hệ sinh thái được cải thiện; chỉ số công bằng là tỷ lệ cộng đồng dễ bị tổn thương được hưởng lợi từ dịch vụ hệ sinh thái. Để đảm bảo hiệu quả của Bộ chỉ số, cần tuân thủ các nguyên tắc và phương pháp cụ thể. Đầu tiên, việc áp dụng tiêu chí SMART giúp chuyển các mục tiêu chính sách thành các thước đo thực tế, có thể theo dõi và đánh giá một cách khách quan. Thu thập dữ liệu cần xác định các nguồn dữ liệu đa dạng và phù hợp với từng chỉ số. Các nguồn này có thể bao gồm báo cáo nội bộ, dữ liệu từ các nền tảng số, và các cuộc khảo sát. Việc đa dạng hóa nguồn dữ liệu giúp đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin. Cơ chế cập nhật kết quả giám sát cần được công bố định kỳ, ví dụ 3-6 tháng/lần, hoặc khi có yêu cầu từ các cơ quan dân cử. Cơ chế cập nhật thường xuyên này đảm bảo thông tin luôn được cập nhật, kịp thời phục vụ cho việc ra quyết định và tăng cường trách nhiệm giải trình. Lợi ích và tác động tích cực Việc triển khai Bộ chỉ số tác động đầu tư công sẽ mang lại nhiều lợi ích quan trọng. Trước hết, nó tăng tính khách quan, minh bạch trong đánh giá đầu tư công thông qua hệ thống chỉ số định lượng và công cụ số hóa, cung cấp dữ liệu rõ ràng, minh bạch, giúp đánh giá hiệu quả đầu tư một cách khách quan hơn so với phương pháp truyền thống. Bộ chỉ số cũng cung cấp công cụ mạnh cho Hội đồng Nhân dân và Mặt trận Tổ quốc trong giám sát. Các công cụ số và dữ liệu mở sẽ trao quyền cho các cơ quan dân cử và tổ chức xã hội trong việc giám sát chi tiêu công, phát hiện sai phạm và chất vấn các cơ quan quản lý một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc áp dụng bộ chỉ số sẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công, giảm thất thoát, lãng phí. Khả năng giám sát thời gian thực, cảnh báo tự động và phân tích dữ liệu chuyên sâu sẽ giúp phát hiện sớm các rủi ro, tối ưu hóa việc phân bổ và sử dụng nguồn lực. Cuối cùng, việc tích hợp các chỉ số tác động xã hội, môi trường và công bằng sẽ thúc đẩy tăng trưởng xanh, bền vững và công bằng, đảm bảo rằng các khoản đầu tư công không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững, bảo vệ môi trường và giảm bất bình đẳng xã hội. Xây dựng Bộ chỉ số tác động đầu tư công là bước đi chiến lược, phù hợp với yêu cầu của mô hình chính quyền đô thị hai cấp hiện nay. Đây không chỉ là công cụ giám sát mà còn là phương tiện để nâng cao chất lượng quản trị nhà nước, tăng cường trách nhiệm giải trình và đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn lực công. Việc triển khai thành công bộ chỉ số này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, minh bạch và có trách nhiệm giải trình cao, phục vụ tốt hơn lợi ích của nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước./.