Tổng hợp ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Kế toán (sửa đổi)

Thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 của Quốc hội và Chương trình hoạt động của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội; để chuẩn bị cho kỳ họp thứ Mười, Đoàn ĐBQH Thành phố đã tiến hành lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Kế toán (sửa đổi).

Thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 của Quốc hội và Chương trình hoạt động của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội; để chuẩn bị cho kỳ họp thứ Mười, Đoàn ĐBQH Thành phố đã tiến hành lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo Luật Kế toán (sửa đổi).

Đa số ý kiến cho rằng việc sửa đổi Luật Kế toán là cần thiết nhằm khắc phục những hạn chế của Luật Kế toán hiện hành. Dự thảo Luật sửa đổi để phù hợp với tình hình thực tiễn quản lý, phù hợp với mục tiêu, xu hướng phát triển kinh tế trong giai đoạn hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay.

Đa số ý kiến nhất trí với đối tượng áp dụng của dự thảo Luật, hoặc nếu có thể thì xem xét bỏ đối tượng áp dụng là “hộ kinh doanh” vì theo quy định của luật thuế hiện hành thì hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp ấn định (khoán doanh thu), không thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ.

Về giải thích từ ngữ (Điều 3), Khoản 11: Có ý kiến cho rằng người có chứng chỉ kế toán viên là có đủ điều kiện hành nghề, đề nghị sửa nội dung như sau "Kế toán viên hành nghề là người có chứng chỉ kế toán viên và đang mưu sinh bằng nghề kế toán"; một số ý kiến đề nghị bổ sung giải thích những thuật ngữ: “Báo cáo tài chính ”, “báo cáo tài chính nhà nước ”, “ghi nhận ”, “thanh tra kế toán ”, “hóa đơn”, “sổ kế toán”, “hệ thống tài khoản”, “hệ thống sổ”, “hóa đơn điện tử”, “phần mềm kế toán ”... vì đây là những thuật ngữ quan trọng và cơ bản của kế toán.

Về nguyên tắc kế toán (Điều 6), Khoản 1: Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung các nội dung về nguyên tắc, tiêu chí, điều kiện xác định loại tài sản được đưa vào điều chỉnh, danh mục điều chỉnh, hoặc Ban soạn thảo nghiên cứu quy định nội dung này vào Điều 28 của dự thảo Luật; có ý kiến đề nghị bổ sung các nguyên tắc kế toán cơ bản như: Hoạt động liên tục, phù hợp và trọng yếu. Đối với các hành vi bị cấm (Điều 13), Khoản 10: Có ý kiến đề nghị bổ sung hành vi “mua, bán hóa đơn”, vì hành vi này diễn ra phổ biến trong các trường hợp khai báo giá thanh toán cao hơn giá thực tế mua bán, hợp thức hóa cho các giao dịch thực tế không phát sinh... Việc mua bán hóa đơn làm sai lệch số liệu thực tế về doanh thu, chi phí, lợi nhuận của các đơn vị kế toán liên quan và tất yếu ảnh hưởng đến số liệu quyết toán gây thất thu cho Ngân sách nhà nước.

Về hình thức và thời hạn công khai báo cáo tài chính (Điều 33), đề nghị quy định cụ thể về mỗi hình thức công khai hoặc giao thẩm quyền cho Chính phủ quy định chi tiết. Điều 42 về bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán, dự thảo Luật quy định tài liệu kế toán lưu trữ phải là bản chính chủ yếu có ý nghĩa trong trường hợp các doanh nghiệp ghi sổ kế toán thủ công, còn khi ghi sổ kế toán bằng máy vi tính việc dùng thuật ngữ bản chính là không phù hợp.

Về tiêu chuẩn, quyền và trách nhiệm của người làm kế toán (Điều 52), kế toán trưởng (Điều 55), một số ý kiến đề nghị nâng tiêu chuẩn và điều kiện của người làm kế toán là có bằng trung cấp trở lên, của kế toán trưởng là có bằng cao đẳng trở lên.

Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán (Điều 60), có ý kiến đề nghị dự thảo luật nên quy định mở theo hướng cho phép tất cả các loại hình doanh nghiệp được kinh doanh dịch vụ kế toán và ràng buộc bằng các điều kiện quản lý, ví dụ: trên 50% nhân viên thực hiện dịch vụ là kế toán viên hành nghề và 30% nhân viên thực hiện dịch vụ có kinh nghiệm hành nghề từ 3 năm trở lên, người lãnh đạo cao nhất của doanh nghiệp phải là kế toán viên hành nghề, 51% cổ phần có quyền biểu quyết thuộc về cổ đông là kế toán viên hành nghề... Riêng Điều 61 về điều kiện cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán, có ý kiến đề nghị thống nhất 1 giấy phép là giấy phép đăng ký kinh doanh, khi cần thẩm định chuyên môn để công nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ kế toán thì trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước cần phối hợp với nhau (Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính) để cấp cho doanh nghiệp, không đặt ra thủ tục phiền hà và nhiều đầu mối sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp; ý kiến khác đề nghị bỏ quy định “có ít nhất ba kế toán viên hành nghề”, vì quy định trong dự thảo Luật không khả thi, thực tế hiện số lượng kế toán viên có chứng chỉ hành nghề kế toán trong cả nước hiện rất khiêm tốn, đồng thời không có cơ sở khoa học chứng minh phải có ít nhất ba kế toán viên hành nghề trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ kế toán. Đơn cử, Luật Công chứng cũng chỉ quy định mỗi Văn phòng công chứng có hai công chứng viên trở lên.

Ngoài ra, có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo quy định những công việc kế toán cần thực hiện sau khi có kết luận thanh tra tài chính, thanh tra thuế và kiểm toán. Trên thực tế, các đơn vị kế toán còn lúng túng khi thực hiện công việc kế toán sau thanh tra tài chính, kiểm tra thuế, kiểm toán; đặc biệt trong cùng kỳ kế toán năm, đơn vị kế toán vừa là đối tượng được thanh tra, kiểm tra đồng thời là đơn vị được kiểm toán….

Toàn văn báo cáo tổng hợp xem tại đây

MINH TÚ

Lượt xem: 624

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.