Tổng hợp ý kiến góp ý của Đoàn ĐBQH TP Hà Nội vào dự thảo Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi)

Đa số ý kiến tán thành với sự cần thiết phải sửa đổi Luật Nghĩa vụ quân sự. Dự thảo Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) đã cụ thể hóa được các quy định tại chương IV của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc, khắc phục những bất cập của Luật Nghĩa vụ quân sự hiện hành, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới là xây dựng hệ thống quân sự chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực, khả năng chiến đấu cao và xây dựng một đội ngũ dự bị động viên đảm bảo đáp ứng các yêu cầu tham gia bảo vệ Tổ quốc khi cần thiết.

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2015 của Quốc hội và Chương trình hoạt động của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội năm 2015; để chuẩn bị cho kỳ họp thứ Chín, Quốc hội khóa XIII, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã triển khai lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) và tổng hợp các ý kiến góp ý, cụ thể.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chủ tịch UBND TP Hà Nội động viên tân binh lên đường nhập ngũ

Đa số ý kiến tán thành với sự cần thiết phải sửa đổi Luật Nghĩa vụ quân sự. Dự thảo Luật Nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) đã cụ thể hóa được các quy định tại chương IV của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ Tổ quốc, khắc phục những bất cập của Luật Nghĩa vụ quân sự hiện hành, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới là xây dựng hệ thống quân sự chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực, khả năng chiến đấu cao và xây dựng một đội ngũ dự bị động viên đảm bảo đáp ứng các yêu cầu tham gia bảo vệ Tổ quốc khi cần thiết.

Về nghĩa vụ phục vụ tại ngũ (Điều 6), Khoản 1: Có ý kiến cho rằng quy định tại khoản này mâu thuẫn với các khoản 3, 4 của Điều 4 vì trong trường hợp các đối tượng được quy định tại khoản 3, 4 Điều 4 vẫn còn trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Điều 6 thì có phải thực hiện nghĩa vụ phục vụ tại ngũ trong Quân đội nhân dân Việt Nam nữa hay không? Đề nghị Ban soạn thảo sửa khoản 1 Điều 6 thành “Công dân nam trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự có nghĩa vụ phục vụ tại ngũ trong Quân đội nhân dân Việt Nam, trừ những trường hợp quy định tại các khoản 3, 4 Điều 4 Luật này”.

Các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 10), Khoản 1: Có ý kiến đề nghị sửa thành “Trốn tránh hoặc không chấp hành nghiêm các quy định khi thực hiện nghĩa vụ quân sự” vì khi thực hiện nghĩa vụ quân sự phải tuân thủ các quy định như đăng ký, khám sức khỏe, chấp hành lệnh gọi...

Có ý kiến cho rằng để đảm bảo thực hiện có hiệu quả và khả thi trước yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu phương thức tiến hành các thủ tục đăng ký nghĩa vụ quân sự theo hướng áp dụng công nghệ thông tin, đảm bảo thuận tiện cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời phù hợp với nội dung quy định về cơ sở dữ liệu nghĩa vụ quân sự tại Điều 20a.

Về thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ (Điều 21), có nhiều luồng ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng hiện nay đất nước đang trong thời kỳ hòa bình, không có chiến tranh, đề nghị Ban soạn thảo giữ nguyên quy định về thời hạn tại ngũ là 18 tháng như Luật hiện hành. Ý kiến khác cho rằng thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ là 12 hay 18 tháng là không đảm bảo thời gian huấn luyện chương trình, nội dung về giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật... và tán thành với dự thảo Luật là nâng thời hạn phục vụ tại ngũ thành 24 tháng để đáp ứng mục tiêu, yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới.

Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, quy định rõ về thời hạn phục vụ của hạ sĩ quan, binh sĩ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh theo quy đnh tại khoản 1 hay thực hiện theo lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ trong tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp về quốc phòng theo quy định tại khoản 2.

Độ tuổi gọi nhập ngũ (Điều 32), một số ý kiến cho rằng nên quy định độ tuổi gọi nhập ngũ như Luật hiện hành là từ đủ mười tám tuổi đến hết hai lăm tuổi và không nên quy đinh riêng với trường hợp “công dân đào tạo trình độ đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ thì độ tuổi gọi nhập ngũ trong thời bình đến hết hai bảy tuổi” vì quy định này không hợp lý, gây khó khăn cho công tác quản lý, trường hp cần thiết nên quy định chung cho các đối tượng đào tạo bậc đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trung học nghề và đề nghị sửa lại Điều này thành “Công dân đủ mười tám tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ trong thời bình từ đủ mười tám tuổi đến hết hai lăm tuổi”

Toàn văn báo cáo tổng hợp của Đoàn ĐBQH TP Hà Nội

QUỐC THỊNH

Lượt xem: 144

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.