Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Bộ Luật Hàng hải Việt Nam

Đa số các ý kiến đồng ý với phạm vi điều chỉnh của Bộ luật quy định tại Điều 1. Một số ý kiến cho rằng về bố cục của dự thảo luật chặt chẽ, cơ cấu chương, mục hợp lý; tuy nhiên có 4 điều luật chỉ có tên điều không có nội dung (Điều 27, 50, 88, 102) và thiếu điều luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành và đề nghị 4 điều 27, 50, 88, 102 quy định nội dung cụ thể ngay trong luật và bổ sung một điều về Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.

Chuẩn bị cho kỳ họp thứ Mười, Quốc hội khóa XIII, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã triển khai lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Bộ Luật Hàng hải Việt Nam và tổng hợp các ý kiến góp ý.

Nhiều ý kiến cho rằng dự thảo Bộ Luật Hàng hải (sửa đổi) lần này đã bổ sung nhiều nội dung mới như thuyền viên, cảng cạn, bảo vệ môi trường, tàu ngầm, tàu lặn, kho chứa nổi, giàn di động, ụ nổi, vùng biển quốc tế, quản lý nhà nước về hàng hải... với 20 chương, 343 điều và đề nghị lấy tên gọi là Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015.

Đa số các ý kiến đồng ý với phạm vi điều chỉnh của Bộ luật quy định tại Điều 1. Một số ý kiến cho rằng về bố cục của dự thảo luật chặt chẽ, cơ cấu chương, mục hợp lý; tuy nhiên có 4 điều luật chỉ có tên điều không có nội dung (Điều 27, 50, 88, 102) và thiếu điều luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành và đề nghị 4 điều 27, 50, 88, 102 quy định nội dung cụ thể ngay trong luật và bổ sung một điều về Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.

Một số ý kiến cho rằng dự thảo luật có điều riêng về giải thích từ ngữ (Điều 4), nhưng có nhiều khái niệm chung lại không được giải thích tại điều này mà lại đưa vào giải thích ngay trong điều luật làm giảm tính quy phạm; đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, chỉnh sửa theo hướng chỉ đưa vào giải thích tại các chương, điều cụ thể một số trường hợp đặc biệt. Nhiều ý kiến đề nghị chuyển việc giải thích các khái niệm sau về Điều 4: “Tàu biển”, “Tàu biển Việt Nam”, “Chủ tàu”, “Cảng biển”, “Cảng dầu khí ngoài khơi”, “Đăng ký tàu biển Việt Nam”, ‘‘Khiếu nại hàng hải”, “Thuyền bộ”, “Bắt giữ tàu biển”, “Giá dịch vụ vận chuyển theo quãng đường thực tế”; “Môi giới hàng hải và người môi giới hàng hải”; “Lai dắt tàu biển”; “Tàu chìm đắm, tàu chìm đắm độc hại”; “Tai nạn đâm va”; “Tổn thất chung”; “Số tiền bảo hiểm”, “Vùng biển quốc tế"...

Một số ý kiến cho rằng: Dự thảo luật quy định 3 ngành nghề kinh doanh có điều kiện là: Đóng mới, sửa chữa, phá dỡ tàu biển; Dịch vụ đại lý tàu biển; Dịch vụ lai dắt tàu biển. Các ngành nghề kinh doanh này liên quan đến hạn chế quyền con người, quyền công dân (công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, quyền công dân chỉ bị hạn chế trong 4 lĩnh vực được quy định tại Khoản 2, Điều 14, Hiến pháp năm 2013); vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, quy định cụ thể chi tiết điều kiện để kinh doanh các ngành nghề trên ngay trong luật không giao cho Chính phủ quy định.

Nhiều ý kiến cho rằng: Phá dỡ tàu biển (Mục 8) có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường và tai nạn lao động cao. Nhiều quốc gia trên thế giới không cho phép phá dỡ tàu biển cũ ở quốc gia mình. Ban soạn thảo nghiên cứu, cân nhắc tính toán toàn diện về an ninh quốc gia, lợi ích cộng đồng, lợi ích doanh nghiệp, môi trường và phát triển bền vững, đề nghị bỏ Điều 47 quy định cho phép nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng để phá dỡ vì để bảo vệ môi trường và tránh việc lợi dụng việc nhập khẩu tàu biển cũ biến Việt Nam thành bãi rác thải tàu biển cũ.

Có ý kiến đề nghị không giao cho Ban quản lý và khai thác cảng thực hiện quản lý nhà nước liên quan đến cảng tại các Điều 90, 91, 92 (Ban quản lý và khai thác cảng chỉ thực hiện nhiệm vụ kinh doanh, dịch vụ) để không trùng lắp với chức năng nhiệm vụ với cảng vụ hàng hải (là cơ quan trực thuộc cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành hàng hải).

Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng dự thảo Luật còn quá nhiều nội dung (42 điều, khoản) giao cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, trong đó: Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ hướng dẫn: 23 điều, khoản; Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài chính, Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn 19 điều, khoản. Quy định như vậy không phù hợp với quan điểm đổi mới xây dựng luật của Quốc hội (giảm luật khung, luật ống); làm giảm hiệu lực thi hành luật (vì luật chờ các văn bản hướng dẫn thi hành). Đề nghị Ban soạn thảo rà soát những điều khoản nào có thể quy định chi tiết ngay trong luật thì quy định ngay không giao cho Chính phủ và các Bộ, đảm bảo luật được thực thi ngay khi có hiệu lực.

Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo rà soát kỹ các luật đã ban hành cũng như các luật dự kiến sẽ được Quốc hội xem xét, thông qua thời gian tới để bảo đảm tính thống nhất giữa dự án Bộ Luật Hàng hải Việt Nam với rất nhiều luật khác có liên quan như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Giao thông đường thủy nội địa, Luật Quy hoạch, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Đất đai năm 2013 và các dự án Luật đang được Quốc hội xem xét, thông qua như Bộ Luật Dân sự, Luật phí, lệ phí...

Toàn văn tổng hợp góp ý vào dự thảo Bộ luật Hàng hải Việt Nam xem tại đây

DUY LINH

Lượt xem: 720

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.