Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Dược (sửa đổi)

Luật Dược (sửa đổi) gồm 14 Chương, 116 Điều quy định về chính sách của Nhà nước về dược và phát triển công nghiệp dược; hành nghề dược; kinh doanh dược; đăng ký, lưu hành, thu hồi thuốc và nguyên liệu làm thuốc; dược liệu và thuốc cổ truyền; đơn thuốc và sử dụng thuốc; thông tin thuốc, cảnh giác dược và quảng cáo thuốc; dược lâm sàng; quản lý thuốc trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; thử thuốc trên lâm sàng và thử tương đương sinh học của thuốc; quản lý chất lượng thuốc, nguyên liệu làm thuốc và quản lý giá thuốc.

Luật Dược (sửa đổi) gồm 14 Chương, 116 Điều quy định về chính sách của Nhà nước về dược và phát triển công nghiệp dược; hành nghề dược; kinh doanh dược; đăng ký, lưu hành, thu hồi thuốc và nguyên liệu làm thuốc; dược liệu và thuốc cổ truyền; đơn thuốc và sử dụng thuốc; thông tin thuốc, cảnh giác dược và quảng cáo thuốc; dược lâm sàng; quản lý thuốc trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; thử thuốc trên lâm sàng và thử tương đương sinh học của thuốc; quản lý chất lượng thuốc, nguyên liệu làm thuốc và quản lý giá thuốc.

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016 của Quốc hội và Chương trình hoạt động của Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội năm 2016, Đoàn ĐBQH thành phố Hà Nội đã triển khai lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Dược (sửa đổi) và tổng hợp các ý kiến góp ý. Đa số ý kiến tán thành việc sửa đổi Luật Dược là cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Dự thảo Luật Dược (sửa đổi) đã khắc phục một số vấn đề bất cập, hạn chế của luật hiện hành và bổ sung, sửa đổi một số vấn đề được nhân dân quan tâm trong thời gian qua như: quy định về chính sách nhà nước về dược và phát triển công nghiệp dược (Chương II), kinh doanh dược (Chương IV), quản lý giá thuốc (Chương XIII)... Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung một chương quy định về “Quản lý chất lượng, giá và sử dụng mỹ phẩm, thực phẩm chức năng” để có hành lang pháp lý cho các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện nhiệm vụ.

Về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng (Điều 1), hiện nay, mỹ phẩm và thực phẩm chức năng được lưu hành rất nhiều trên thị trường nhưng chưa được quản lý chặt chẽ về chất lượng và giá. Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung nội dung về “quản lý chất lượng, giá và sử dụng mỹ phẩm, thực phẩm chức năng” vào cuối Khoản 1.

Về giải thích từ ngữ (Điều 2), có ý kiến đề nghị bổ sung giải thích các từ ngữ: Dược sĩ lâm sàng là những dược sĩ làm trong lĩnh vực dược lâm sàng tại các cơ sở khám, chữa bệnh; thực hiện tư vấn về thuốc cho thầy thuốc trong chỉ định, điều trị và hướng dẫn sử dụng thuốc cho cán bộ y tế và cho người bệnh. Dược cộng đồng là hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người dân thông qua hệ thống bán lẻ thuốc nhằm đảm bảo việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả cho người dân trong cộng đồng. Dược sĩ cộng đồng là người làm nhiệm vụ cung cấp thuốc cùng với hướng dẫn phù hợp nhằm đảm bảo mục tiêu sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả cho người dân trong cộng đồng.

Về dự trữ quốc gia về thuốc, nguyên liệu làm thuốc (Điều 3), Khoản 1: Có ý kiến đề nghị bổ sung một điểm với nội dung “Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế” vì hiện nay một số loại nguyên liệu, cây trồng, nguồn gien quý hiếm ở nước ta có nguy cơ bị cạn kiệt, tuyệt chủng, do đó cần dự trữ để phục vụ nghiên cứu khoa học cũng như hợp tác quốc tế để bảo tồn, nhân giống nguồn nguyên liệu này. Khoản 2: Có ý kiến đề nghị bổ sung cụm từ “và phù hợp với các quy định khác của Luật này” vào cuối khoản.

Về những hành vi bị nghiêm cấm (Điều 7), Điểm a Khoản 9: Có ý kiến đề nghị sửa thành “a) Quảng cáo các sản phẩm quy định tại khoản 5 Điều 7 Luật Quảng cáo và thực hiện các hành vi cấm trong hoạt động quảng cáo theo Điều 8 Luật Quảng cáo” để đảm bảo thống nhất trong hoạt động quản lý quảng cáo của Nhà nước được quy định trong Luật Quảng cáo.

Về chính sách của Nhà nước về lĩnh vực dược (Điều 8), một số ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu bổ sung chính sách đầu tư ưu tiên phát triển công nghiệp dược liệu, công nghiệp kháng sinh, công nghiệp hóa dược hóa chất để sản xuất thuốc bổ vì hiện nay ngành dược chủ yếu vẫn là gia công, còn nguyên liệu để bào chế, sản xuất thuốc thành phẩm vẫn nhập từ nước ngoài.

Về quản lý chứng chỉ hành nghề dược (Điều 32), Khoản 1: Một số ý kiến đề nghị Ban soạn thảo chọn phương án 1 với nội dung “Chứng chỉ hành nghề dược được cấp một lần và có giá trị trong phạm vi cả nước” là hợp lý vì nếu để quy định chứng chỉ hành nghề dược có thời hạn 05 năm kể từ ngày cấp sẽ gây lãng phí, phiền hà cho cá nhân. Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo chọn phương án 2 vì nghề dược là nghề đặc thù liên quan đến sức khỏe, tính mạng con người, vì vậy 05 năm cấp lại chứng chỉ hành nghề dược là cần thiết để rà soát lại những người hành nghề có còn đủ trình độ, năng lực, sức khỏe để tiếp tục hành nghề hay không.

Về sử dụng thuốc (Điều 80), Khoản 3: Có ý kiến đề nghị bổ sung từ “sử dụng” trước cụm từ “thuốc gây ảnh hưởng nghiêm trọng... ” vì nhiều trường hợp chất lượng thuốc tốt nhưng do cách sử dụng không đúng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng người sử dụng.

Bên cạnh đó, Mục 1 Chương III (Chứng chỉ hành nghề dược): Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề dược là phải thi kỳ thi cấp quốc gia thay vì quy định như hiện nay. Có ý kiến đề nghị bỏ Chương IX (Dược lâm sàng) vì nhiều quy định trong chương thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Khám bệnh, chữa bệnh và trùng với quy định của các chương khác.

Chương XIII (Quản lý giá thuốc): Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu biện pháp khả thi hơn để ngăn chặn giá thuốc tăng cao mà các cơ quan quản lý nhà nước không thể kiểm soát được trong thời gian qua. Nếu chỉ quy định “Niêm yết giá bán buôn, bán lẻ thuốc bằng đồng Việt Nam (VNĐ) tại nơi giao dịch hoặc nơi bán thuốc ...” như quy định tại Khoản 4 Điều 112 về các biện pháp quản lý giá thuốc trong dự thảo Luật thì không khắc phục được tình trạng “loạn” giá thuốc. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định giá sàn của các loại thuốc trong từng giai đoạn cụ thể căn cứ vào mức biến động của thị trường thuốc.

Hoài Thương

Lượt xem: 217

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.