Tổng hợp ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Kiến trúc

Đa số các ý kiến cho rằng việc ban hành Luật Kiến trúc tạo cơ sở pháp lý cho việc phát huy khả năng sáng tạo và quyền tự do sáng tác của kiến trúc sư nhằm tạo ra những công trình kiến trúc mang dấu ấn thời đại, đồng thời khẳng định vai trò quản lý Nhà nước đối với một lĩnh vực có những đặc trưng riêng. Việc ban hành Luật Kiến trúc sẽ tạo sự đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019, chuẩn bị cho kỳ họp thứ Bảy, Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội đã tổ chức lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật Kiến trúc, tổng hợp các ý kiến đóng góp cho thấy, đa số các ý kiến cho rằng việc ban hành Luật Kiến trúc tạo cơ sở pháp lý cho việc phát huy khả năng sáng tạo và quyền tự do sáng tác của kiến trúc sư nhằm tạo ra những công trình kiến trúc mang dấu ấn thời đại, đồng thời khẳng định vai trò quản lý Nhà nước đối với một lĩnh vực có những đặc trưng riêng. Việc ban hành Luật Kiến trúc sẽ tạo sự đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Đa số ý kiến nhất trí về cơ bản bố cục của dự thảo Luật, tuy nhiên có ý kiến cho rằng, một số nội dung quy định tại Điều 6 trùng lặp với nội dung quy định tại Chương IV: Quản lý Nhà nước về kiến trúc. Đề nghị Ban soạn thảo gộp Điều 6 vào Chương IV.

Có ý kiến cho rằng dự thảo Luật quy định Điều 39 sửa đổi một số điều của các luật liên quan, cụ thể là Luật Xây dựng (2014), Luật đấu thầu (2013), Luật Quy hoạch đô thị (2009), Luật sửa đổi 37 Luật (2018), tuy nhiên, liên quan đến kiến trúc còn rất nhiều luật (khoảng gần 60 Luật) do vậy liệt kê như dự thảo Luật là chưa đầy đủ. Đề nghị Ban soạn thảo đưa vào dự thảo Luật những quy định khung, còn quy định chi tiết trong phụ lục.

Có ý kiến cho rằng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật “quy định về hoạt động kiến trúc; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của tổ chức, cả nhân trong hoạt động kiến trúc”, tuy nhiên, trong dự thảo Luật có nhiều quy định khác về kiến trúc đô thị, kiến trúc nông thôn, kiến trúc khu chức năng. Do đó quy định như dự thảo Luật sẽ rất hạn hẹp, không bao quát được toàn bộ mảng kiến trúc và cũng không logic với nội dung trong dự thảo Luật. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật cho phù hợp.

Có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo làm rõ mối tương quan của Luật Kiến trúc với các luật có liên quan để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, cụ thể như sau: Kiến trúc là một hoạt động có liên quan chặt chẽ với xây dựng. Vì vậy khi xây dựng Luật Kiến trúc cần đảm bảo tính thống nhất với Luật Xây dựng. Trong Luật Xây dựng có rất nhiều nội dung điều chỉnh về hoạt động kiến trúc, quy định về thiết kế xây dựng, quy định về hành nghề xây dựng trong đó có hoạt động thiết kế... Dự thảo Luật đã có những sửa đổi, bổ sung Luật Xây dựng nhưng chưa đầy đủ, quy định về thiết kế xây dựng của Luật Xây dựng cơ bản chưa được điều chỉnh ngoài việc bãi bỏ Điều 81; quy định về hành nghề thiết kế của Luật Xây dựng cũng chưa điều chỉnh. Các quy định về Quy hoạch xây dựng cũng bao gồm các nội dung về tổ chức không gian (là một hoạt động của thiết kế), Quy chế kiến trúc cũng bao gồm các sơ đồ, bản vẽ, hình ảnh minh họa về tổ chức không gian.. .hai văn bản luật không có sự tách bạch rõ ràng sẽ chồng chéo, trùng lắp dẫn đến rất khó thực hiện.

Luật Xây dựng quy định việc cấp chứng chỉ phân theo hạng I, hạng II, hạng III. Dự thảo Luật Kiến trúc thì không có quy định này. Như vậy, hoạt động xây dựng nhưng theo Luật Kiến trúc thì chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư không phân hạng, còn các hoạt động xây dựng khác vẫn phân hạng; cùng là kiến trúc sư thì đối với các chứng chỉ hành nghề liên quan đến thiết kế được cấp theo Luật Xây dựng và các Nghị định, thông tư hướng dẫn vẫn tiếp tục có hiệu lực thì có phân hạng, còn chứng chỉ hành nghề Kiến trúc sư được cấp theo Luật Kiến trúc không phân hạng. Như vậy sẽ tạo sự thiếu đồng bộ, không thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Luật Quy hoạch đô thị quy định về thiết kế đô thị từ Điều 32 đến Điều 35. Tuy nhiên, các nội dung này chưa được rà soát điều chỉnh trong dự thảo Luật Kiến trúc. Dự thảo Luật Kiến trúc có những quy định về kiến trúc đô thị nhưng quy định chung chung. Đe nghị Ban soạn thảo tiếp tục rà soát vừa để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

Luật Quy hoạch: Các quy định về Quy chế quản lý kiến trúc trong dự thảo Luật Kiến trúc có nhiều điểm tương đồng với Quy hoạch vì bao gồm các sơ đồ, bản vẽ, hình ảnh minh họa. về thực chất trong Quy hoạch đã bao gồm các nội dung mang tính chất kiến trúc, cụ thể là các nội dung về tổ chức không gian và được cụ thể hóa bằng sơ đồ, bản vẽ, hình ảnh minh họa. Vậy khi ban hành Quy chế quản lý kiến trúc có cần các quy định này không, liệu có bị trùng lặp không? Đe nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định cụ thể tránh chồng chéo trong hệ thống pháp luật.

Về hành nghề kiến trúc (Chưong 3), có ý kiến đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định cụ thể vào dự thảo Luật những nội dung về tổ chức cấp chứng chỉ hành nghề kiến trúc sư; Tổ chức thực hiện chương trình đào tạo liên tục; Cơ quan chuẩn bị nội dung và tổ chức kiểm tra sát hạch; Cơ quan xây dựng quy chế đạo đức hành nghề kiến trúc sư; Cơ quan kiểm tra và xử lý vi phạm.

Về giải thích từ ngữ (Điều 3), Khoản 1: Có ý kiến đề nghị giải thích thuật ngữ “Kiến trúc” như sau: “Kiến trúc là một ngành nghệ thuật và khoa học về tổ chức sắp xếp không gian, lập hồ sơ thiết kế các công trình kiến trúc”. Khoản 2: Có ý kiến đề nghị giải thích thuật ngữ “Hoạt động kiến trúc” như sau: “Hoạt động kiến trúc là hoạt động quản lý không gian kiến trúc và hành nghề kiến trúc. Có ý kiến cho rằng một số thuật ngữ được giải thích chung chung, khó hiểu, sử dụng nhiều khái niệm trừu tượng như “nghệ thuật và khoa học” hay cách sử dụng chính từ đang cần giải thích để giải thích như “Hoạt động kiến trúc là hoạt động...” hoặc giải thích không chính xác như “Kiến trúc sư hành nghề là người có chứng chỉ hành nghề kiến trúc thực hiện dịch vụ kiến trúc” vì theo khoản 2 Điều 21 dự thảo quy định vẫn có cá nhân không có chứng chỉ hành nghề kiến trúc được tham gia các dịch vụ kiến trúc trong các tổ chức hành nghề kiến trúc nên việc giải thích là người có chứng chỉ hành nghề là chưa phù hợp. Đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu cách giải thích các thuật ngữ khoa học, dễ hiểu...

Toàn văn tổng hợp mời xem tại file đính kèm

Lượt xem: 885

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất

Cần thiết quyền chất vấn của HĐND cấp tỉnh đối với TAND và Viện KSND tỉnh và khu vực

Xây dựng pháp luật 1 ngày trước

Đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp... Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện bước tiến trong việc tái khẳng định vai trò của chính quyền địa phương. Theo đó, chính quyền địa phương gồm HĐND và UBND sẽ được tổ chức tại các đơn vị hành chính phù hợp với đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo... Tuy nhiên, cần quy định rõ hơn ranh giới giữa “tổ chức chính quyền địa phương đầy đủ HĐND và UBND” và “mô hình không tổ chức HĐND”. Cần bổ sung các tiêu chí, điều kiện rõ ràng để xác định đơn vị hành chính nào được tổ chức HĐND, tránh tùy tiện và bảo đảm đồng bộ giữa các cấp chính quyền. Thay vì đưa ra quy định cụ thể mang tính chi tiết trong Hiến pháp, nội dung về điều kiện tổ chức HĐND nên được xác lập ở cấp luật, bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với từng giai đoạn và đặc điểm phát triển của từng địa phương. Hiến pháp chỉ nên khẳng định nguyên tắc tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở bảo đảm tính đại diện, tự chủ, hiệu lực và hiệu quả, còn việc quyết định cụ thể mô hình tổ chức và tiêu chí áp dụng nên do Quốc hội quy định bằng luật. Về cấu trúc đơn vị hành chính, việc bỏ quy định cố định ba cấp hành chính trong Hiến pháp là phù hợp xu hướng tinh gọn và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay. Tuy nhiên, để bảo đảm tính ổn định, cần giữ quy định về trình tự, thủ tục sắp xếp đơn vị hành chính và đặc biệt là yêu cầu lấy ý kiến Nhân dân là bắt buộc, nên ghi cả trong Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương để khẳng định nguyên tắc “dân là chủ”. Mô hình chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh và cấp xã) hiện đang được triển khai trên phạm vi toàn quốc theo tinh thần các nghị quyết, kết luận và chỉ đạo gần đây của Trung ương về tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện không còn cấp hành chính trung gian về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thực tế triển khai mô hình hai cấp cho thấy có nhiều ưu điểm như tinh giản đầu mối, rút ngắn quy trình xử lý hành chính, tăng cường hiệu quả điều hành của cấp tỉnh và nâng cao tính tự chủ của cấp xã. Tuy nhiên, việc không tổ chức chính quyền cấp huyện cũng đặt ra những thách thức không nhỏ về phân định trách nhiệm, cơ chế phối hợp, giám sát và đặc biệt là bảo đảm sự kết nối giữa cấp tỉnh và cơ sở. Vì vậy, Hiến pháp sửa đổi cần ghi nhận rõ mô hình chính quyền hai cấp như một hình thức tổ chức phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước, đồng thời trao quyền cho Quốc hội cụ thể hóa mô hình này trong luật để vừa bảo đảm linh hoạt, vừa giữ ổn định hệ thống chính trị và hành chính quốc gia. Liên quan đến quyền chất vấn của đại biểu HĐND, đề nghị xem xét sửa khoản 2, Điều 115 theo hướng: “Đại biểu HĐND cấp tỉnh có quyền chất vấn Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp tỉnh và khu vực”. Bởi nếu đại biểu HĐND không có quyền chất vấn các cơ quan tư pháp này thì sẽ dẫn đến khoảng trống trong giám sát quyền lực tại địa phương, ảnh hưởng trực tiếp đến nguyên tắc kiểm soát quyền lực trong Hiến pháp. Thực tiễn tại các địa phương cho thấy, sau khi sắp xếp lại đơn vị hành chính, không còn cấp huyện. Khi đó, hệ thống tòa án và viện kiểm sát được tổ chức theo cụm, khu vực liên huyện, đặt ra yêu cầu phải xác lập thẩm quyền giám sát mới cho đại biểu HĐND cấp tỉnh – cơ quan dân cử đại diện cho cử tri địa phương. Việc bảo đảm quyền chất vấn của đại biểu HĐND cấp tỉnh không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát mà còn thể hiện vai trò đại diện của HĐND trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Đây cũng là một cơ sở pháp lý quan trọng để HĐND có thể xem xét, kiến nghị, hoặc yêu cầu giải trình các vụ việc liên quan đến hoạt động xét xử, truy tố tại địa phương – những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến đời sống pháp lý và niềm tin công lý của người dân. Nếu Hiến pháp không quy định rõ ràng, rất có thể sẽ dẫn đến xu hướng hành chính hóa quan hệ giữa cơ quan dân cử và cơ quan tư pháp, làm suy yếu vai trò giám sát dân chủ trong thực tiễn. Tổng thể, các nội dung sửa đổi trong Dự thảo đã thể hiện nhiều bước tiến về tổ chức, lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, cần tiếp tục làm rõ hơn về cơ chế giám sát thực chất của HĐND, đặc biệt trong bối cảnh tinh gọn bộ máy và sáp nhập đơn vị hành chính. Cần đảm bảo không hình thức hóa vai trò của cơ quan dân cử ở địa phương, đồng thời tăng cường phân quyền, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương để nguyên tắc Nhân dân là chủ thực sự được bảo đảm trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước./.